HẠNH NHẪN NHỤC CỦA BẬC TƯỚNG QUÂN CHÁNH PHÁP

Xung quanh Kỳ Viên tịnh xá và cả thành Xá Vệ người ta bàn tán nhiều về những đức tính cao thượng của tôn giả Xá Lợi Phất. Người ta bảo rằng: tôn giả là người đã làm chủ hoàn toàn, đầy đủ các trạng thái tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả; là người không còn ngã mạn, kiêu căng, không còn tham ái, đố kỵ, bất bình, nóng giận…

Có một ông bà-la-môn gia chủ đi ngang qua, nghe được, chỏ miệng vào:

– Ai là người không còn nóng giận đâu, chỉ cho tôi coi nào?

Mọi người bảo:

– Ðó là tôn giả Xá Lợi Phất, vị đại đệ tử của sa-môn Cồ Đàm đó.

– À! Có phải là cái ông độ nọ cùng đến đây với trưởng giả Cấp Cô Ðộc xây dựng tịnh xá đó phải không?

– Chính vị ấy.

Ông bà-la-môn gia chủ kia mỉm cười:

– Các bạn lầm rồi. Không nóng giận là vì không có ai khiêu khích, chọc tức. Ðã là con người trên đời này thì ai cũng có lúc phải nóng giận cả, không nóng giận là đồng với gỗ, đá, đất, cát hay sao? Nếu mà gặp tay tôi, tôi sẽ làm cho ông Xá-lợi phất ấy nóng giận cho các bạn xem! Tôi rất sành về phương cách chọc giận người ta mà!

Ông bà-la-môn nói huyên thuyên vậy, nhưng cách chọc giận của ông ta cũng bình thường. Ông rình khi tôn giả Xá Lợi Phất đang đi khất thực trên đường phố, bất thần từ phía sau, ông lấy gậy đánh lên lưng ngài một cái rất mạnh. Tôn giả Xá Lợi Phất bất cứ đâu, bất cứ lúc nào ngài cũng chánh niệm, tỉnh giác, đôi lúc ngài trú “không định” nên cái đánh kia không ảnh hưởng gì tới ngài. Vẫn với bước chân chậm rãi, từ tốn, với đôi mắt thản nhiên, thanh bình, tôn giả vẫn không hề quay lại.Cảm thấy vô cùng hối hận, ông bà-la-môn quăng gậy, quỳ mọp xuống dưới chân tôn giả để tạ tội. Ngài ngạc nhiên, dịu dàng hỏi:

– Có gì vậy hở ông bà-la-môn? Hãy đứng lên rồi nói chuyện.

– Vì muốn thử lòng nhẫn nhục của ngài, vì muốn xem ngài có nổi nóng không nên tôi đã mạo phạm lấy gậy đánh ngài. Xin ngài tha thứ tội lỗi cho tôi.

– Ðược rồi! Vậy là ta đã tha thứ cho ông rồi!

– Nếu ngài tha thứ cho tôi thì bắt đầu từ bây giờ, xin ngài hãy đến nhà tôi khất thực để cho tôi được dịp cúng dường.

Nói xong, ông bà-la-môn cúi đầu, cung kính nâng cái bát của tôn giả. Ngài cũng nhẹ nhàng thuận trao cho, rồi đi theo ông ta về nhà.

Cả khu phố bu quanh, chứng kiến tận mắt một câu chuyện đẹp mắt: Kẻ chọc giận người lại được người nhiếp phục! Thế nhưng, chuyện đến tai cận sự nam nữ trong thành phố lại khác: Có một ông bà-la-môn tên vậy, tên kia, ở khu phố nọ, đã dùng gậy đánh ngài Xá Lợi Phất bị thương nặng! Không mấy lúc, cả hàng chục người với gậy và đá cầm tay đến bao vây căn nhà của ông bà-la-môn với quyết tâm là giết chết kẻ hung ác.

Nghe xôn xao, tôn giả Xá Lợi Phất bước ra, ông bà-la-môn hai tay trịnh trọng ôm bát theo sau.

Nhóm cận sự nam nữ la lên:

– Bạch ngài! Ngài có sao không?

– Thưa tôn giả! Tôn giả hãy đứng qua một bên.

– Ông bà-la-môn hung ác kia! Hãy bước ra đây!

Tôn giả Xá Lợi Phất nhìn mọi người, hỏi:

– Này các đạo hữu! Này các cư sĩ tại gia! Có chuyện gì vậy?

Họ trả lời:

– Tên bà-la-môn đê tiện, độc ác kia đã dùng gậy đánh ngài, đánh lén sau lưng khi ngài đi trì bình khất thực.

– Chúng con đến đây là để trị tội đích đáng, hắn đã xâm phạm đến trưởng lão, bậc thầy nhân ái của chúng con.

– Dùng gậy trả lại gậy. Hãy đánh cho chết hắn ta đi!

Tôn giả Xá Lợi Phất mỉm cười cho đám đông yên tâm, xua tay rồi nói:

– Các đạo hữu hãy an tâm! Một chuyện hiểu lầm nho nhỏ thôi

– Bạch ngài! Nhưng chính ngài đã bị đánh!

– Ðúng vậy! Ông ta đánh bần đạo chớ có đánh các đạo hữu đâu. Và ông ta đã sám hối. Ta cũng đã chấp nhận sự sám hối ấy rồi. Các ngươi xem! Ông ta đã ôm bát một cách kính cẩn sau khi đã cúng dường vật thực cho ta! Từ rày hãy coi ông ta như một bạn đạo.

Ðám đông nhìn, thấy, hiểu tự sự nên họ đã tự động giải tán.

– Noi gương hỷ xả của trưởng lão, chúng tôi tha thứ cho cái mạng của ông đấy, ông bà-la-môn! Ráng mà tu hành cho đàng hoàng!

Ông bà-la-môn sợ quá, lắp bắp:

– Vâng, vâng, tôi sẽ đàng hoàng!

Tôn giả Xá Lợi Phất thản nhiên, ôm bát lặng lẽ trở về Kỳ Viên tịnh xá.

Tối đến, trên pháp tòa, câu chuyện ấy được đức Thế Tôn kể lại để giáo giới cho đại chúng. Ai cũng tấm tắc khen ngợi đức hạnh nhẫn nhục vô song của tôn giả Xá Lợi Phất.

Hôm nọ, cuối mùa mưa, sau khi an cư xong, một số rất đông tỳ-khưu đến chào từ giã tôn giả Xá Lợi Phất để lên đường. Theo thông lệ, ngài hay ưu ái gọi các vị tỳ-khưu bằng tên của gia đình họ đặt, gọi tên theo giới hạnh hoặc pháp hạnh của vị ấy. Ví dụ:

– Này hiền giả Maṅgalo! Hiền giả an vui chứ?

– Này con của bà Dhanī, có khỏe không?

– Vị Ðại Hoan Hỷ đây rồi!

– Ðại đức tinh thông Tạng Luật đây rồi!

– Thượng tọa Ðộc Cư Khổ Hạnh đây rồi!…

Thấy tôn giả, bậc Tướng quân Chánh pháp niềm nở, vui vẻ, thân tình với tất cả mọi người như vậy, ai cũng hoan hỷ, ai cũng cảm thấy mình được quan tâm, được biết tiếng. Và họ hãnh diện về điều đó. Có một vị tỳ-khưu trẻ, mà hoàn toàn tôn giả Xá Lợi Phất thấy lạ hoắc, không biết gọi tên sao, nên ngài đành phải bỏ qua.

Nhưng vị tỳ-khưu ấy không bỏ qua, cảm thấy buồn bã, cảm thấy bực tức, bất mãn, tự nghĩ:

– “Ngài khinh thường ta, coi thường ta; ngài đã thiên vị, đã không đối xử thân thiện với ta như những vị khác”.

Bất đồ, lúc ấy tôn giả Xá Lợi Phất đứng dậy, bước qua, chéo y của ngài phất đụng vị tỳ-khưu trẻ nọ. Lòng bất mãn càng tăng, vị tỳ-khưu trẻ qua Ðại Giảng Ðường bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn! Tôn giả Xá Lợi Phất khi không ngài lại đánh con! Chắc hẳn tôn giả ấy nghĩ rằng mình là một vị đại đệ tử oai phong lẫm liệt nên muốn làm gì thì làm sao! Xin đức Thế Tôn hãy phân xử cho công minh. Tôn giả Xá Lợi Phất đã đánh con một bạt tai, đến nỗi tai con như bị bỏng, bị điếc! Sau khi làm vậy rồi, ngài chẳng tỏ vẻ gì là hối lỗi, thản nhiên bước đi không thèm đếm xỉa gì con cả! Xin đức Thế Tôn hãy công bằng phân xử, oan con lắm!

Tăng chúng được quy tụ trở lại Ðại Giảng Ðường. Câu chuyện ấy tức khắc được lan truyền rất nhanh qua cửa miệng của nhiều người. Lúc ấy Ðại Mục Kiền Liên và đại đức A Nan Đa biết rõ là đã có một sự cáo oan xảy ra cho huynh trưởng của mình. Nhưng không sao, cả hai tôn giả đều rất vui, đã tuyên bố trước hội chúng tỳ-khưu của mình:

– Này chư hiền! Hãy cố gắng tụ họp ở Ðại Giảng Ðường cho đông đủ! Hãy đến đấy mà nghe! Khi sư huynh của ta, tôn giả Xá Lợi Phất ở trước mặt đức Đạo Sư, đối diện với kẻ đã cáo gian, cáo dối mình, chư hiền mới cảm nhận được, thấy được, nghe được thế nào là tiếng gầm rống của môt con mảnh sư.

Trước cả hàng ngàn tỳ-khưu có mặt, đức Thế Tôn mỉm nụ cười trong tâm, tự nghĩ: 

– Ừ, đây là phải thời để con trai trưởng của ta giáo giới đến chư tỳ-khưu!

Bèn hỏi: 

– Này Xá Lợi Phất! Có phải như vậy chăng? 

Có phải ông đã thô bạo đánh vị tỳ-khưu này một bạt tai làm điếc cả lỗ tai rồi bỏ đi mà không thèm đếm xỉa đến y ra sao, nỗi đau của y ra sao?

Mọi người hồi hộp trước lời chất vấn của đức Ðạo Sư. Tôn giả Xá Lợi Phất tâm ý linh thông, biết ý của đức Đạo Sư nên ngài chẳng chấp nhận cũng chẳng chối từ tội, cất giọng trầm hùng vang vang như chuông ngân:

– Bạch đức Thế Tôn! Khi một thiện gia nam tử xuất ly cần cầu an ổn mọi khổ ách, y đã từ bỏ gia sản, vinh hoa phú quý thì đối với y chỉ có một mục đích duy nhất là giải thoát mọi khổ đau trên trần thế. Khi một sa-môn tấn tu phạm hạnh, đã đứng vững chắc trong đạo quả, kẻ ấy hoàn toàn làm chủ được chính mình, hoàn toàn với tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả khi cần thiết, khi cần sử dụng phương tiện để giáo hóa chúng sanh.

– Bạch đức Thế Tôn! Những người như vậy có thể nào làm đau đớn cho đồng đạo của mình rồi bỏ đi thản nhiên không một lời xin lỗi?

Tôn giả Xá Lợi Phật nghỉ hơi một lát. Cách trả lời, cách đặt vấn đề, nội dụng khởi đề của ngài làm cho hội chúng im lặng như tờ. Có một cái gì đó nữa, sâu nhiệm hơn ẩn trong câu chuyện này. Mọi con mắt đều mở lớn ra, mọi lỗ tai đều căng lên…

Tôn giả Xá Lợi Phất nói tiếp:

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi mà trong tâm không còn sân hận, ác độc, hiềm hại ai; kẻ ấy bao giờ cũng có được đức tính trầm lặng, khiêm nhu, nhẫn nại; tâm vị ấy như mặt đất, mặc cho ai chà, ai đạp, ai bước tới, bước lui, quăng lên đấy tất cả mọi dơ uế bất tịnh; ai đại tiện, tiểu tiện lên đấy cũng được hết!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi mà tự coi tâm mình như nước, thì nước ấy mặc tình ai uống, ai tắm, ai rửa đồ dơ dáy; nước ấy cũng không vui, không buồn, vẫn bình lặng và an nhiên!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi mà tự coi tâm mình như lửa, thì lửa ấy mặc tình người ta thắp để cúng, để thờ; mặc tình người ta lấy để đốt tử thi, nấu ăn, đốt cỏ rác, đốt đồ dơ uế; lửa ấy cũng chẳng vui, chẳng buồn, vẫn bình lặng và an nhiên!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi mà tự coi tâm mình như gió, thì gió ấy đâu phải vì qua tha ma, mộ địa mà chồn chân; gió ấy đâu phải vì qua chỗ phú quý, cao sang mà dừng lại? Dơ, sạch gió ấy không phân biệt; buồn, vui gió ấy có biết đâu. Muôn đời nó vẫn bình lặng và an nhiên như thế!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi đã tự coi mình như miếng vải chùi chân, thì ai chùi chân cũng được cả; nó chẳng bao giờ phàn nàn sao lau vật này mà không lau vật kia! Miếng vải chùi chân là cái thân của vị ấy, cái tâm của vị ấy, ở chỗ dơ uế nhất nào dám khinh khi ai, ác ý với ai, sân hận với ai? Không! Bao giờ nó vẫn như vậy, bình lặng và an nhiên!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi đã tự coi mình như một hạng người thấp kém nhất trong xã hội, như một gã chiên-đà-la cùng đinh, hạ liệt, thì ai muốn đánh, muốn chửi; cho chí họ có giết chết cũng vô tội, người đó luôn luôn ý thức giá trị thấp hèn của mình dầu có bị đối xử thế nào, vẫn không than van bao giờ!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi đã tự ví mình như một con bò rụng sừng, thì nó rất sợ đụng chạm đến vật cứng, nó không bao giờ dám gây hấn với ai, báng húc ai. Sống, nó muốn thu rút cái sừng của mình lại, đó là cái thân của vị ấy, là cái tâm của vị ấy!

– Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi đã tự ví mình như con rắn mang cái xác nặng nề, trườn tới trườn lui không ra khỏi cái xác. Cũng vậy, người ấy đã tự thấy rõ cái thân này gồm ba mươi hai thể trược bất tịnh, lại chứa sẵn bao nhiêu bệnh tật ở trong, lại còn ốm đau, già chết; vị ấy chỉ mong cầu tu tập để sớm quẳng bỏ cái xác nặng nề, hôi hám ấy, có đâu còn rảnh thì giờ để cho khi mạn, ác ý phát sanh lên đem đến phiền não cho người!

Bạch đức Thế Tôn! Một người, khi đã tự ví tâm mình như chén mỡ đặc thì chén ấy còn đựng được gì? Có thể nào chén mỡ đặc lại đựng thêm được tham, nộ, si, ganh ghét và thù oán?

Bạch đức Thế Tôn! Chín điều ấy là con, con chính là chín điều ấy. Tất cả mọi phẩm hạnh, mọi đức tính của một sa-môn mà đức Tôn Sư hằng giáo giới, dẫu con chưa thành tựu vẹn toàn nhưng con vẫn đang đi từng bước một, vững chắc và ổn định. 

Từ khi thấy đạo, thấy quả đến nay, con chưa hề hổ thẹn một điểm nào về giới luật để đến nỗi phải tự khiển trách chính mình.  Xin đức Thế Tôn và cả đại địa minh chứng cho con sự thật ấy.

Khi tôn giả Xá Lợi Phất nói xong, địa cầu dày bốn mươi do tuần rung chuyển như chấn động. Ðại Giảng Ðường lặng ngắt như tờ. Có rất nhiều vị tỳ-khưu cảm động quá đến chảy nước mắt. Người mà khiêm tốn đến cùng tận như vậy thì thế gian không có người thứ hai.

Chợt nhiên, vị tỳ-khưu trẻ sợ hãi, bước tới, quỳ mọp xuống chân đức Ðạo Sư:

– Bạch đức Thế Tôn! Chính con là kẻ nói dối! Chính con đã tự dựng nên câu chuyện để nói xấu đến bậc Tướng quân Chánh pháp. Ðấy là lỗi lầm không thể tha thứ của con.

Ðức Phật nói:

– Này Xá Lợi Phất! Ông hãy bi mẫn tha lỗi cho ông tỳ-khưu ngu si này; nếu không, cái đầu của ông ta sẽ vỡ tan thành bảy mảnh.

Tôn giả Xá Lợi Phất trả lời:

– Bạch đức Thế Tôn! Tự nhiên là đệ tử đã tha thứ cho vị tỳ-khưu này rồi.

Rồi với hai bàn tay chấp lại, ngài hướng đến vị tỳ-khưu trẻ, nói rằng:

– Ngoài ra tôi cũng xin hiền giả hoan hỷ xá lỗi cho tôi nếu tôi vô tình có làm điều gì đó mếch lòng hiền giả.

Tiếng rống của con sư tử và những hành động sau đó của tôn giả Xá Lợi Phất đã làm cho tăng chúng ai nấy cũng đều cảm phục.

Họ bàn luận với nhau:

– Này huynh đệ! Hãy xem những đức tính siêu việt của bậc Tướng quân Chánh pháp. Ðối với vị tỳ-khưu vu khống mình, đầy ác tri, ác ngữ như thế kia mà ngài không tỏ vẻ gì là nóng giận hay oán ghét ông ta.

– Vị Ðại Trưởng Lão của chúng ta thật là tuyệt vời! 

Vị tỳ-khưu kia có lỗi, thay vì phải quỳ xuống ôm chân bụi của ngài mà sám hối trước. Ở đây, trưởng lão của chúng ta lại chấp tay, cung kính xin lỗi mặc dầu ngài không có lỗi.

– Huynh đệ có nghe rõ tiếng rống của ngài trước đức Thế Tôn và tăng chúng không? Ôi! Quả đất kia không chịu đựng nổi giới đức của ngài nên phải rung động đến từng mảy vi trần cát bụi.

Ðức Thế Tôn nói với đại chúng:

– Này các thầy tỳ-khưu! Dĩ nhiên con trai trưởng của Như Lai đã chấm dứt trọn vẹn lòng sân hận, bực tức, bất mãn; chấm dứt trọn vẹn mọi luyến ái trên cuộc đời này. Tâm hồn con trai trưởng của Như Lai ổn định như quả đất vĩ đại, vững chắc như những trụ cột của một tòa cổ thành và yên lặng như một hồ nước trong không gợn sóng. Với một con người như vậy, giới đức thanh tịnh như vậy, định tĩnh tựa Tu Di sơn như vậy thì Ma Vương không còn tìm thấy dấu vết và vòng luân hồi tử sanh chẳng còn mảy may hiệu lực gì đối với vị ấy.

Trích từ  “Một Cuộc Đời Một Ngôi Sao”

TT Giới Đức Minh Đức Triều Tâm Ảnh

TỔ LONG THỌ DẠY TRUYỀN PHÁP CHO TÊN TRỘM

Ngài Long Thọ là một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử
Phật giáo. Ngài là một khất sĩ trần trụi, nhưng Ngài được yêu mến
bởi tất cả những người tìm kiếm chân lý tối hậu.

Một vị nữ vương cũng đem lòng yêu Long Thọ sâu sắc. Một ngày
nọ nàng thỉnh cầu ngài vào cung làm tân khách. Long Thọ cũng đến.
Nữ vương thỉnh cầu ngài một việc.
Long Thọ nói:
“Nữ vương muốn gì?”
Nàng nói:
“Ta muốn cái bát khất thực của ông.”
Long Thọ đã đưa nó cho vị nữ vương – đó là thứ duy nhất ngài sở
hữu – cái bình bát khất thực của ngài. Và hoàng hậu đã mang một cái
bình bát bằng vàng, nạm kim cương và đưa cho Long Thọ. Nàng nói:
“Bây giờ ngài giữ cái này. Ta sẽ thờ cái bát khất thực mà ông đã
mang theo trong nhiều năm – nó có năng lượng gia trì của ông. Giờ
nó là đền thờ của ta. Và một người như ông không nên mang một cái
bát khất thực bằng gỗ tầm thường – hãy giữ chiếc bình bát bằng vàng
này. Ta đã đặc biệt làm nó tặng ông.”

Chiếc bình bát thực sự rất quý giá. Nếu Long Thọ là một hành giả
tâm linh bình thường, ngài sẽ nói: “Tôi không thể dùng nó. Tôi đã xả
bỏ những thứ thế tục rồi.” Nhưng đối với ngài thì mọi thứ đều có
khác gì nhau, nên ngài đã nhận cái bát.

Khi ngài rời cung điện, một tên trộm đã nhìn thấy ngài. Kẻ trộm
không thể tin vào mắt mình: “Một người trần trụi như vầy sao lại có
thứ bảo vật này! Ông ấy còn có thể bảo vệ nó được bao lâu?”
Vậy là tên trộm đã đi theo ngài. Long Thọ ở bên ngoài thị trấn,
trong một ngôi đền cổ đổ nát, không cửa ra vào, không cửa sổ. Nó chỉ
là một đống đổ nát. Kẻ trộm rất vui mừng: “Chẳng bao lâu nữa ông
ấy sẽ đi ngủ và sẽ không có khó khăn gì, ta sẽ lấy cái bát.”
Khi tên trộm đang nấp sau bức tường ngay bên ngoài cửa. Long
Thọ chợt ném cái bát quý ra ngoài cửa. Tên trộm không thể tin được
những gì đã xảy ra. Long Thọ ném nó đi bởi vì ngài đã theo dõi tên
trộm đang theo dõi phía sau mình, và ngài hoàn toàn biết rõ rằng hắn
không đến vì ngài mà hắn đến để lấy cái bát, “Vậy tại sao lại để anh
ta đợi một cách không cần thiết? Đưa nó để anh ta có thể đi, và ta
cũng có thể nghỉ ngơi. “

Một thứ quý giá như vậy! Và Long Thọ đã ném nó đi quá dễ dàng.
Tên trộm không thể đi mà không cảm ơn ngài. Hắn hoàn toàn biết
rằng, nó đã được ném cho hắn. Hắn nhìn vào và nói:
“Thưa ngài, xin chấp nhận lời cảm ơn của tôi, nhưng ngài là một
người hiếm có. Tôi không thể tin vào mắt mình, và một ước nguyện
lớn lao đã nảy sinh trong tôi. Tôi đang lãng phí cuộc đời mình để làm
một kẻ trộm, nhưng trên đời lại có những người như ngài. Tôi có thể
vào và chạm vào chân ngài được không?”
Long Thọ cười và ngài nói:
“Được, đó là lý do tại sao ta ném cái bát ra bên ngoài, để anh có thể
vào trong.”

Hóa ra tên trộm đã bị ‘gài bẫy’. Hắn bước vào, chạm vào chân
ngài… và phút giây đó gã trộm rất thật lòng, vì hắn đã biết người này
chẳng phải là người bình thường. Hắn khép nép, chân thành, biết ơn,
thấy kì diệu và choáng váng. Khi chạm vào đôi chân Long Thọ, lần
đầu tiên trong đời hắn cảm nhận được sự hiện diện của điều gì đó
linh thánh.
Gã hỏi Long Thọ:
“Phải mất bao nhiêu kiếp sống để tôi trở nên giống như ngài?”
Long Thọ nói:
“Bao nhiêu kiếp à? Nó có thể xảy ra hôm nay, nó có thể xảy ra ngay
bây giờ!”
Tên trộm nói:
“Chắc ngài đang đùa. Làm sao nó có thể xảy ra bây giờ? Tôi là một
tên trộm, một tên trộm nổi tiếng. Cả thị trấn đều biết tôi, mặc dù họ
chưa bắt được tôi. Ngay cả đức vua cũng sợ tôi, bởi vì ba lần tôi đã
vào ăn cắp trong kho bạc. Họ biết điều đó, nhưng họ không có bằng
chứng. Tôi là một tên trộm bậc thầy. Ngài có thể không biết về tôi, vì
ngài là người lạ lẫm trong những chuyện này thôi. Làm sao [một kẻ
khốn như] tôi có thể chuyển hóa ngay bây giờ?”
Và Long Thọ nói:
“Nếu trong một ngôi nhà cũ chìm trong bóng đêm trong nhiều thế
kỷ và anh mang theo một ngọn nến, phải chăng bóng tối sẽ nói: “Ta
đã ở đây hàng thế kỷ. Ta không thể ra đi chỉ vì anh đã mang theo một
cây nến. Vì ta đã tồn tại rất lâu”? Bóng tối có năng lực kháng cự hay
sao? Liệu có khác gì dù bóng tối tồn tại một ngày hay một triệu năm?
Tên trộm có thể nhìn ra chân nghĩa: bóng tối không thể chống lại
ánh sáng; khi ánh sáng đến, bóng tối bị xua tan.
Long Thọ nói:
Dầu anh có thể đã ở trong bóng tối hàng triệu kiếp, điều đó không
quan trọng, nhưng ta có thể cho anh một bí mật: Anh có thể thắp sáng
một ngọn nến trong con người của anh.”
Rồi tên trộm nói:
“Còn nghề ăn trộm của tôi? Tôi có phải từ bỏ nó?”
Long Thọ nói:
“Đó là do anh quyết định. Ta không quan tâm đến anh và nghề của
anh, ta chỉ có thể cung cấp cho anh bí quyết làm thế nào để thắp sáng
trong con người anh, và sau đó tùy thuộc vào anh.”
Tên trộm nói:
“Nhưng bất cứ khi nào tôi đến bất kỳ vị thánh thiêng nào, họ luôn
nói, ‘Trước tiên hãy ngừng ăn trộm, thì sau đó ta mới khai ngộ cho
anh.”

Người ta nói rằng Long Thọ đã cười lớn và nói:
“Chuyện của anh là đi ăn trộm chứ không phải đến thăm các vị
thánh thiêng kia. Họ không biết gì đâu. Anh chỉ cần theo dõi hơi thở
của mình, [một phương pháp cổ xưa của Đức Phật], anh chỉ cần quan sát
hơi thở vào, quan sát hơi thở ra, bất cứ khi nào anh nhớ, hãy quan sát
hơi thở của mình. Ngay cả khi anh đi ăn trộm, khi anh vào nhà ai đó
trong đêm, hãy tiếp tục theo dõi hơi thở của anh. Khi anh đã phá cửa
những kho bạc và thấy kim cương châu báu ở đó, hãy cứ tiếp tục theo
dõi hơi thở của anh và làm bất cứ điều gì anh muốn làm, nhưng đừng
quên theo dõi hơi thở.”
Tên trộm nói:
“Chuyện này có vẻ đơn giản. Không cần một quy tắc đạo đức?
Không cần quy ước? Không yêu cầu gì khác?”
Long Thọ nói:
“Hoàn toàn không – chỉ cần dõi theo hơi thở của anh.”

Và sau mười lăm ngày, tên trộm đã trở lại, nhưng hắn là một người
hoàn toàn khác. Hắn quỳ xuống dưới chân Long Thọ và nói:
“Ngài đã gài bẫy tôi, và ngài đã gài bẫy tôi khéo đến mức tôi thậm
chí không thể nghi ngờ. Tôi đã cố gắng trong mười lăm ngày này,
nhưng không thể. Chừng nào tôi còn theo dõi hơi thở của mình, tôi
không thể ăn trộm. Nếu tôi ăn trộm, tôi không thể theo dõi hơi thở
của mình. Theo dõi hơi thở, tôi trở nên tĩnh lặng, tỏ tường, tỉnh giác
đến mức ngay cả những viên kim cương cũng giống như những viên
sỏi. Ngài đã tạo ra cho tôi một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng
nan. Bây giờ tôi phải làm gì đây?”

Long Thọ nói:
“Cứ đi lạc lối, cứ làm bất cứ điều gì anh muốn làm. Nếu anh vẫn
muốn sự tĩnh lặng đó, sự an bình, hỷ lạc, vốn khởi sinh trong anh
khi anh theo dõi hơi thở của mình, thì hãy chọn nó. Nếu anh nghĩ
rằng tất cả kim cương và vàng bạc có giá trị hơn thì chọn nó. Cái đó
là do anh chọn! Ta là ai mà bàn tính cho cuộc đời anh? “

Gã trộm thốt:
“Con không thể chọn sự bất tỉnh giác một lần nữa. Con chưa bao
giờ biết đến những khoảnh khắc [tỉnh thức] như bây giờ. Xin nhận
con làm đệ tử của thầy, và xin khai ngộ cho con.”

Long Thọ nói: “Thầy đã thực ra khai ngộ cho con rồi.”
Con đường tâm linh không [chỉ] dựa trên quy tắc đạo đức mà dựa
trên thiền định. Con đường tâm linh không bắt nguồn từ những
nguyên tắc mà từ Tỉnh Thức.

THIỆN LƯƠNG VÀ THÔNG MINH

Một vị sư lên rừng hái củi, trên đường về gặp một cậu bé đang chạy chơi đùa, hái hoa bắt bướm. Vị sư đến gần hỏi: 

⁃Trên tay con cầm gì thế? 

Cậu bé láu cá: 

– Đố sư biết trong đó là gì. Nhưng nếu Sư nói sai, Sư phải mất cho con bó củi nhé ? 

⁃Một con bướm đã chết đúng không? 

⁃Ha ha.. sai rồi, con bướm còn sống nhé Sư? 

Nói rồi cậu tung con bướm bay lên trời. 

Vị Sư cười nói: 

⁃Củi của con đây, cầm về đi! 

Cậu bé hí hửng đem bó củi về khoe cha. Người cha tái mặt bước đến nhéo tai thằng con: 

⁃Đem bó củi lên chùa trả rồi xin lỗi người ta ngay. 

Cậu bé vừa đi vừa la: 

⁃Nhưng con thắng mà!?!

Đến chùa hai cha con chắp tay xin lỗi, vị Sư chỉ nhẹ mỉm cười gật đầu. Trên đường về cậu bé vẫn hậm hực. 

Người cha nhẹ nhàng nói: 

⁃Nếu Sư nói con bướm còn sống, con cũng bóp cho nó chết đúng không? Từ đầu Ngài ấy đã định đem bó củi để đổi lấy một mạng sống rồi đó. 

Cậu bé lặng lẽ cúi đầu. 

Sự ngạo mạn và hiếu thắng luôn lấy đi bao lý trí của mỗi chúng ta. Đừng thấy ai lùi mà vội bảo họ thua. 

Thiện lương khó hơn là thông minh. Bởi vì thông minh là thiên phú, còn thiện lương là một sự lựa chọn.

TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ

TRUNG BỘ KINH – BÀI KINH SỐ 34
TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ


Toát Yếu
Bản kinh ngắn về người chăn bò. Phật giải thích các hạng tỳ kheo “vượt
qua được sông ma” để vượt qua bờ kia một cách an ổn.

Kệ Tụng
Kẻ chăn bò vô trí, không quan sát bờ sông
Lùa bò lội chỗ hiểm, đàn bò chết giữa dòng.
Người chăn bò có trí, khéo quan sát bờ sông
Lùa bò qua an ổn, bò đực dẫn đầu đàn.
Bậc trí khéo trình bày, đời sau và đời này
Cảnh giới của ác ma, và phi-ma cảnh giới.
Bậc Chính giác, Trí giả, biết rõ mọi thế giới
Cửa bất tử rộng mở, hành lộ đến Niết-bàn.
Những ai tin theo Phật, cắt đứt các trói buộc
Vượt qua dòng sinh tử, được an lạc dài lâu:
Hoặc thành bậc La hán, như bò đực đầu đàn;
Hoặc thành bậc Bất hoàn, như bò đực khỏe mạnh;
Hoặc thành bậc Nhất lai, như bò tơ đương độ;
Hoặc thành bậc Dự lưu, như bê con còn bú.
Tất cả đệ tử Phật, đều vượt thoát an toàn
Cắt ngang dòng sông Ma, đạt Niết-bàn an ổn.

Tóm Tắt
Như kẻ chăn bò vô trí không quan sát kỹ, lùa bò qua sông tại chỗ không
thể lội qua, đàn bò gặp tai nạn. Cũng thế, có những tu sĩ không khéo biết
đời này đời sau, không biết ma giới và phi ma giới, cảnh giới tử thần và
cảnh giới bất tử. Những ai nghe và tin theo những vị ấy sẽ phải bất hạnh,
đau khổ lâu dài.
Phật như người chăn có trí, biết rõ đời này, đời sau, ma giới và phi ma
giới, tử thần giới và phi tử thần giới, nên Ngài đã đưa những hạng người
sau an toàn vượt qua dòng sông sinh tử, cảnh giới của Ma: những bậc A la
hán, như con bò đầu đàn; A na hàm, như bò đực đã thuận; bậc Nhất lai,
như bò con đã lớn; Dự lưu, như bò con còn bú; những bậc Tùy pháp hành,
tùy tín hành, như bò con mới sinh còn chạy theo mẹ.

Chú Giải
A la hán có hai hạng: Tâm giải thoát do lúc tu thiền về Định; Tuệ giải
thoát do lúc tu thiền về Tuệ.
A na hàm hay Bất hoàn: trừ năm hạ phần kết sử.
Tư đà hàm hay Nhất lai: trừ ba kết sử và làm suy yếu tham, sân, si.
Dự lưu: trừ ba kết sử là thân kiến [chấp thân này là tôi, của tôi], nghi
[đối với Ba ngôi báu], và giới cấm thủ [giữ các khổ hạnh không đưa đến giải
thoát].
Tùy tín hành: người đắc Dự lưu đạo tu nhờ tu quán vô thường. Từ đây
trở đi cho đến quả vị A la hán, vị ấy được gọi là bậc Tín giải thoát.
Tùy pháp hành: người đắc Dự lưu đạo nhờ tu quán vô ngã. Ở các địa vị
trên Dự lưu đạo, gọi là bậc Kiến chí. Khi đắc A la hán quả, vị ấy được gọi
là bậc Tuệ giải thoát.

(Trích “Trung Bộ Kinh Toát Yếu” – NS. Thích Nữ Trí Hải)