Cơ Duyên Ngộ Đạo của chư Tổ – THIỀN SƯ HOÀI NHƯỢNG

THIỀN SƯ HOÀI NHƯỢNG
ở Nam Nhạc – (677-744)

Sư họ Đỗ, quê ở Kim Châu, sanh ngày mùng tám tháng tư đời Đường niên hiệu Nghi Phụng năm thứ hai (677 T.L.). Được muời lăm tuổi, Sư theo Luật sư Hoàng Cảnh ở chùa Ngọc Tuyền đất Kinh Châu xuất gia.

Sau khi thọ giới cụ túc, Sư học tập tạng Luật. Một hôm, Sư tự than: “Phàm người xuất gia phải vì pháp vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được!”

Bạn đồng học là Thản Nhiên biết Sư có chí cao siêu, khuyên Sư cùng đi đến yết kiến Hòa thượng Huệ An ở Tung Sơn. Hòa thượng Huệ An chỉ dạy và sau bảo Sư đến Tào Khê tham vấn Lục tổ Huệ Năng.

Sư đến Tào Khê, Tổ hỏi:- Ở đâu đến?
Sư thưa:- Ở Tung Sơn đến.
Tổ hỏi:- Vật gì đến?
Sư thưa:
– Nói in tuồng một vật tức không trúng.
– Lại có thể tu chứng chăng?
– Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.
– Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây thiên có lời sấm rằng: “Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện NHẤT MÃ CÂU (con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.”

Sư hoát nhiên kế hội. Từ đây, Sư ở hầu hạ Tổ ngót mười lăm năm.

“BÀ CHỦ BẾP CHÙA”

Chưa bao giờ mà quyền lực mềm mang tên nhà bếp tại đa số các chùa lại lên ngôi đến vậy.

Nó dần trở thành điểm đen nhạy cảm nhất tại các chùa khi Phật tử luôn được cảnh báo trước về những bất cập cho những ai đang có ý định phát tâm ở lại công phu, công quả lâu dài.

“Nhất bái trụ trì, nhị bái Thích ca, thứ ba nhà bếp”, nó như luật bất thành văn, vì không biết mà lỡ đụng vào cái gì, tìm cái mô, tô hay chén cũng dễ dàng bị sửa lưng, nhắc nhở như kiểu: “Muốn cái gì thì nói – Đói thì cũng từ từ – Cái chùa này có ngừ (người) – Chứ không phải vô chủ”.

Vì được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ phía sau, vì cứ nghĩ không có ta là ngôi chùa này sẽ đóng cửa, vì là người có công, có cán nên dần trở thành “bà chủ chùa” đầy uy nghiêm – quyền lực, nắm trong tay cả quyền sinh sát mà cả trụ trì cũng phải im lặng, còn Tăng chúng cũng phải dè chừng, khép nép khi muốn cần gì từ nhà bếp chứ huống chi là Phật tử mới ngày đầu nhập đạo – chạy mất dép.

Quyền lực đó được thể hiện một cách vi tế từ ánh mắt dò xét cho đến bằng giọng điệu khó nghe, khuôn mặt nhăn nhó, sân hận tự kiêu như chứa đầy những ý niệm độc tố được hoà lẫn vào trong từng món ăn mỗi khi dâng lên cúng dường cho Tăng chúng.

Nếu như người đứng đầu không để tâm, thì dần rồi ngôi chùa sẽ được chia thành hai thế giới khác biệt, theo từng phe, từng nhóm, người thì muốn được yên nên chỉ đến tụng kinh, niệm Phật xong là bẽn lẽn ra về dù đang đói, còn mấy ông bà chủ chùa thì chẳng khi nào chịu lên chánh điện để tu như một sự cố thủ cho uy quyền và lãnh địa.

Riết rồi cái tâm học đạo ban đầu như đã mất, nghe đến cái tên là ai cũng ngán, cũng né, cũng dè chừng, phước thì không thấy mà phiền não sân si thì dãy đầy. Nghĩ cũng thương – vì được phước ở chùa lâu mà tánh tình như thị mầu, thị nở. Cửa chùa tuy rộng mở nhưng khó ở được nếu không có tâm tu, hiền lành và khiêm hạ.

Thiệt lòng thì mình cũng như người ta, ai đến chùa cũng vì tìm cầu học đạo, vì muốn có được điểm tựa bình an cho cuộc đời, chứ không phải vì miếng ăn, tô cơm hay bát phở mà lại vô tình nói năng như kiểu ban ơn làm phước. Do trong chùa nên người ta mới nhịn chứ không phải làm thinh là không hay, không biết.

Ngôi Già Lam có yên bình, Tăng chúng có yên ổn, Phật tử có hiệp hoà hay không cũng một phần quan trọng từ nhà bếp, nên đã có duyên được phụng sự, được có phước gần gũi chúng Tăng, thân cận Phật tử vào ra thì nên biết giữ gìn mà tiếp tục gieo trồng những hạt giống của khiêm cung, hiền lành và tươi mát, bằng không sẽ tự biến mình thành tự mãn, bất cần và lập dị.

Vì chùa là của thập phương bá tánh góp công tô tạo, chứ không của riêng ai thì lấy đâu ra quyền uy và kiêu ngạo.

Hãy nghĩ lại những ngày đầu tiên tìm thầy học đạo đầy rụt rè, cung kính, dễ thương, dễ mến để vội hồi đầu thức tỉnh, chứ bằng không coi mình trên cả chúng Tăng là tội lỗi khôn cùng chứ lấy đâu ra phước đức mà tự hào, hãnh diện.

Ở chùa từ nhỏ, gặp nhiều nên riết rồi cũng hiểu. Vài lời nhắn gửi chung cho những người có tâm khi đã nhiều lần vô tình chứng kiến những nỗi đau âm thầm được vọng lên từ nhà bếp.

Giác Minh Luật
Bang Arizona, 29/07/2018.

Cơ Duyên Ngộ Đạo của chư Tổ – TAM TỔ TĂNG XÁN

Quê quán và gốc gác của Sư vốn không ai biết rõ ràng ở đâu. Chỉ biết rằng, lúc Sư đến gặp Nhị Tổ Huệ Khả là với hình thức cư sĩ, mắc bệnh phong hủi đến gặp Tổ cầu xin sám tội:
– Đệ tử mang bệnh ghẻ lỡ đầy mình xin Thầy từ bi sám tội cho.
Tổ Huệ Khả bảo:
– Ông đem tội ra đây, ta sẽ sám cho ông.
Sư đứng sững giây lâu, thưa:
– Đệ tử tìm tội không thể được.
Tổ Huệ Khả bảo:
– Ta đã sám tội cho ông rồi. Song ông nên nương tựa Phật Pháp Tăng.
Sư thưa:
– Nay đây đệ tử thấy Thầy thì đã biết được Tăng, còn chẳng biết thế nào là Phật và Pháp?
Tổ Huệ Khả bảo:
– Chính tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật pháp không hai, ông có biết chăng?
Sư thưa:
– Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, không ở ngoài, chẳng phải khoảng giữa; tội như vậy, tâm cũng vậy, Phật Pháp chính thật không hai.
Tổ Huệ Khả nghe nói vui vẻ, cho cạo tóc xuất gia, bảo:
– Ông chính là vật báu của ta, nên đặt tên Tăng Xán.

Cơ Duyên Ngộ Đạo của chư Tổ – SƠ TỔ MA HA CA DIẾP

Một hôm, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài Ca Diếp đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu ). Đức Phật liền bảo :

─ Ta có chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu-tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn-tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-Nan.

Thế-Tôn đến trước tháp Đa-Tử gọi Ma-Ha-Ca-Diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-Già-Lê quấn vào mình Ca-Diếp, rồi nói kệ phó pháp :

Pháp bổn pháp vô pháp
vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch:
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp.

Cơ Duyên Ngộ Đạo của chư Tổ – TỔ HUỆ KHẢ

Có vị Tăng tên Thần-Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Ngài Bồ-đề-đạt-ma tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà Ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không màng đến.
Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các Ngài”.
Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng 9 tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần-Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chấp tay hướng về Ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần-Quang vẫn thản nhiên.
Ngài Bồ-đề-đạt-ma thấy thế thương tình, xoay ra hỏi:
-Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì ?
Thần-Quang thưa:
-Cúi mong Hòa-thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
-Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay ! Huống là, dùng chút công lao nhỏ nầy mà cầu được pháp chân thừa ?
Thần-Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí bèn dạy:
-Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
–Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng ?
–Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
–Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.
–Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
–Con tìm tâm không thể được.
–Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần-Quang nhơn đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần-Quang là Huệ-Khả.

 

Cơ Duyên Ngộ Đạo của chư Tổ – Thiền sư Huyền Giác

Thiền sư Huyền Giác: ở Vĩnh Gia, họ Đới, quê ở Ôn Châu, thuở nhỏ tập kinh luận, chuyên về pháp môn chỉ quán của tông Thiên Thai, nhân xem kinh Duy Ma Cật phát minh được tâm địa; chợt gặp đệ tử của Tổ là Huyền Sách thăm hỏi, cùng bàn chuyện sôi nổi mà mỗi lời nói ra đều thầm hợp với chư Tổ. Huyền Sách hỏi: “Nhân giả được pháp nơi Thầy nào ?”
Huyền Giác đáp: “Tôi nghe kinh luận Phương đẳng mỗi vị đều có Thầy truyền thừa, sau nơi kinh Duy Ma Cật ngộ được Phật tâm tông mà chưa có người chứng minh.”
Huyền Sách bảo: “Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước tức được, từ Phật Oai Âm Vương về sau, không Thầy mà tự ngộ trọn là thiên nhiên ngoại đạo.”
Huyền Giác nói: “Xin nhân giả vì tôi chứng minh.”
Huyền Sách bảo: “Lời tôi nhẹ, ở Tào Khê có Lục Tổ Đại sư bốn phương nhóm họp về đều là những người thọ pháp. Nếu ông chịu đi thì cùng tôi đồng đi.”
Huyền Giác bèn đồng với Huyền Sách đến tham vấn. Khi đến, Huyền Giác nhiễu Tổ ba vòng, chống tích trượng mà đứng. Tổ bảo: “Phàm là Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ phương nào đến, sanh đại ngã mạn ?”
Huyền Giác thưa: “Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng.”
Tổ bảo: “Sao chẳng thể nhận cái vô sanh, liễu không mau ư ?”
Huyền Giác thưa: “Thể tức là vô sanh, liễu vốn không có mau.”
Tổ bảo: “Như thế, như thế !”
Huyền Giác mới  đầy đủ oai nghi lễ bái, trong chốc lát liền cáo từ. Tổ bảo: “Trở về chóng vậy ?”
Huyền Giác thưa: “Vốn tự không động, há có   mau ư ?”
Tổ bảo: “Ai biết chẳng động ?” Huyền Giác thưa: “Nhân giả tự sanh phân biệt.”
Tổ bảo: “Ông rất được cái ý vô sanh.”
Huyền Giác thưa: “Vô sanh há có ý sao ?”
Tổ bảo: “Nếu không ý thì ai biết phân biệt ?”
Huyền Giác thưa: “Phân biệt cũng không phải ý.”
Tổ bảo: “Lành thay ! Hãy dừng lại một đêm.”
Thời nhân gọi là Nhất túc giác. Sau Ngài có trước tác bộ Chứng Đạo Ca, thịnh hành ở đời. Thụy là Vô Tướng Đại sư, người đương thời xưng là Chân Giác.

(Trích Pháp Bảo Đàn Kinh)