BÀN PHIẾM TRÊN BÀN PHÍM


Chỉ trong mấy tháng ngắn ngủi, tôi đã nghe tin tức về cái chết của cả trăm
ngàn người. Trận bão Nargis ở Miến Điện, bạo loạn ở Tây Tạng, động đất ở
Tứ Xuyên, rồi thì sự ra đi của bao nhiêu là những nhân vật tiếng tăm trong
đạo ngoài đời, đã vậy lại còn là những gương mặt được xem là đình đám và
nhạy cảm hàng đầu trong thời điểm hiện tại. Ở khía cạnh cá nhân, cái chết
nào cũng như cái chết nào, nhưng trên một giao diện rộng hơn, với cộng
đồng thiên hạ, có những cái chết là cả một cái tang lớn. Vì nó cuốn theo đó
một tỉ vấn đề, bao gồm bao thứ dở dang vẫn còn lại đó. Tôi đã thừ người khi
nghe được hung tin về hai nhân vật đều trên hàng thượng thọ, dù đó không
hề là chuyện bất ngờ. Ai sống hơn 80 cứ xem là đã đứng trên hai chữ bất trắc
rồi. Nhưng rồi đã sao chứ? Một cái tang có cáo phó, phân ưu, văn tế rồi kèn
trống nghi trượng hay một cái chết không có nổi manh chiếu đậy xác đều có
một chỗ giống nhau đến nao lòng: Kẻ ra đi không hề biết gì về chuyện hậu
sự của mình. Người ở lại muốn sao thì vậy. Thế rồi trong cõi ký ức chớm già
của mình, tôi bâng khuâng nhớ lại một lần nào đó Online đã từng đọc thấy
lời ghi kỳ lạ trên hai bia mộ, thiệt tình chẳng biết nên cười hay khóc nữa.
Kiếp người, rồi thì cõi nhân gian này sao mà đơn giản quá vậy chứ. Trên bia
mộ một tay kỹ sư điện toán kia, bên dưới tên họ và năm sinh, chỉ vỏn vẹn
một dòng: Run-time error at 17:05:07. Và trên bia mộ một tay nghiện
Computer, có lẽ là Phật tử: System halted at 03:05:08. Please press
Ctrl+Alt+Del to re… born!
Đáng ra đó là chuyện để cười, để giải trí, nhưng nói thiệt, tôi cười hổng
nổi. Ai biết được bao giờ lúc nào đến lượt mình được thiên hạ đưa đi hỏa
táng và bấm giùm cái nút… Reborn. Ngẫm sơ qua cũng thấy ngán thiệt. Bởi
ngày buồn đó rất có thể chỉ là tuần sau!
Nhưng chẳng lẽ chuyện chỉ có vậy hay sao? Dám đem cái computer ví
von với cả một kiếp người thử hỏi có quá đáng chăng; nhưng trong suy
tưởng mơ hồ, tôi thấy hình như cũng đâu có chi là sai chứ. Người tin Phật
một tí xíu cũng hiểu rằng chết rồi đâu phải là hết, và cái gọi là kiếp người
đâu phải chỉ là con số năm tháng hưởng dương hay hưởng thọ gì ấy. Cho
dù anh có xem cái chết chỉ là giây phút kết thúc một cuộc chơi, hay một lần
tắt máy của computer, thì cũng đừng quên trước đó anh đã chơi trò gì, hay
cái computer của anh đã được sử dụng cho chuyện chi mới được chứ. Người
bây giờ thiếu gì kẻ vào tù hay trở thành triệu phú bằng vài phút sử dụng
computer. Tôi mù tịt điện toán, chỉ ngẫu nhiên để ý vài nét tương đồng giữa
con người với chiếc máy rồi tâm đắc với riêng mình như những công án có
thể tham chiếu suốt đời. Giữa hai thứ cứ có những cái giống nhau thiệt ngộ,
một sự giống nhau đến kỳ lạ nhưng độc đáo và thú vị quá chừng:
Ai thường làm sạch computer bằng disk-cleanup chắc còn nhớ câu này:
Disk cleanup is calculating how much space you will be able to free on [C:].
Tôi chịu cái câu đó quá. Thỉnh thoảng hãy tự ngó lại mình để xem thời gian,
sức khỏe, tiền bạc và đầu óc của anh còn lại được bao nhiêu chỗ trống cho
những thứ đàng hoàng hữu ích. Rác rưởi nhiều quá thì mấy thứ hữu dụng
làm gì có chỗ. Đó là chưa kể đến khoản máy anh hay óc anh khi chứa quá
nhiều thứ, sẽ tự làm chậm chính mình vì phải luôn vác theo mình biết bao là
gánh nặng. Cứ nhìn những gì một người sở hữu thì có thể biết anh ta còn dư
lại bao nhiêu khả năng cho những thứ khác ngay. Không những một cá nhân,
mà đến cả một tổ chức, thậm chí một đất nước cũng đều như vậy cả. So kè
mấy chi tiết cỏn con đó, ai dám bảo không thể đem computer so với con
người chứ!
Lăng xăng một đời hay rong ruổi mươi phút trên máy computer rồi thì
cũng phải đến lúc bỏ hết mà đi hay tắt máy. Máy tính ở mấy xứ nghèo còn
có thêm một cách tắt máy đặc thù là mình chưa kịp tắt thì người ta đã cúp
điện ngang xương. Đời người cũng vậy thôi, người ta có nhiều cách để bị
xóa dấu, hoặc mình hoặc người, sự ra đi lúc chết hay tàn lụi thuở sinh tiền.
Phù du lắm, nhưng không thể xem là vô nghiệm. There is nothing is nothing!
Những nơi chốn, hoàn cảnh ta sống qua trong đời ngẫm kỹ cũng giống
hệt những website trên internet mà ta tình cờ bắt gặp một đêm khuya nào
đó. Vui buồn, tốt xấu đủ cả. Và sau một thoáng phù du, gì cũng qua đi. Cái
đáng nói chính là người ta đã ứng phó ra sao với từng phút giây đối diện
vấn đề và những gì còn đọng lại sau đó trong óc, trong tim. Máy của anh tốt
hay xoàng, kiến thức điện toán của anh ra sao, nơi chốn anh sử dụng
computer là ở đâu,… mấy thứ đó là những điều kiện cốt tử cho việc vận hành
của một chiếc máy tính. Đời người cũng vậy thôi, hành trang của anh là gì,
bối cảnh tồn tại của anh ra sao, những thứ đó sẽ góp phần quyết định điều
anh sẽ làm được cho mình và cho đời, để chung cuộc của anh sẽ theo đó mà
như thế nào.
Thế đã hết đâu, con người và máy tính còn bao nhiêu là những tương
đồng khác nữa. Ai xài computer lại không biết đến password, người mình
trong nước vẫn gọi là mật mã hay mã khóa gì đó thì phải. Anh quên hay
không biết password thì coi như chẳng làm ăn gì được. Gẫm kỹ, ai dám bảo
con người với nhau lại không có password chứ. Tại sao trong muôn người
thiên hạ chỉ có hai người đó với nhau mà không là ai khác? Họ biết được
password của đối phương nên chỉ một cái click là có thể đường hoàng bước
vào mê cung tâm tưởng của người đối diện. Kẻ học đạo không biết được
password của thánh hiền thì có mày mò cả đời cũng chỉ là con mọt sách trên
cuốn cổ thư mà thôi. Có rất nhiều lý do để ta không có được password của
nhau: Nếu không nói ngắn gọn là bởi tập khí phiền não thì là những ngăn
ngại của ý thức chính trị, văn hóa hay quan điểm tôn giáo. Người ta có thể
do hoàn cảnh sống, do sự cố chấp hoặc dốt nát mà không nhìn thấy con
đường tương thông với thiên hạ. Hàng tỉ người trên hành tinh này đang
xung đột nhau chỉ vì không biết được password của đối phương. Ta thấy
nhau mà không gặp nhau, hay gặp nhau mà không thấy nhau… đều là
những bi kịch đi ra từ chỗ thiếu password. Chìm sâu trong biển khổ mà vẫn
bế tắc không tìm ra lối thoát cũng chỉ vì thiếu password. Chỉ nói riêng về
đạo giải thoát, theo tôi, tu học là tìm hiểu password của chính mình và hiền
thánh. Đạo lực càng thâm hậu thì người ta càng biết nhiều về những
password cần thiết để hiểu mình, hiểu đời. Đến được thánh nhân thì cái gì
cũng là unlock hết!
Tôi dốt điện toán, chỉ biết thêm một chuyện nữa trên computer đó là vào
Internet để tìm (search) thông tin. Không phải cứ giỏi computer hay sở hữu
được chiếc máy xịn là muốn tìm gì cũng được. Trước hết anh phải có khái
niệm về điều anh cần tìm để từ đó biết tạo ra những từ khóa (keyword). Kiến
thức bách khoa càng rộng, thế giới internet của anh cũng theo đó mà bao la
hơn. Nếu không, anh chỉ loay hoay với dăm chuyện vặt như download phim
nhạc hay chơi game là cùng. Phật pháp hay chuyện đời hình như cũng thế.
Anh chỉ có thể tiếp nhận những bài học giá trị khi lòng anh đã được trang bị
những thứ cần thiết. Vốn liếng nghèo nàn quá, eo hẹp quá, có nghe thấy hay
đọc qua bao nhiêu thứ hay ho trên đời thì chúng với anh vẫn chỉ là những
kẻ lạ trên đường.
Tôi đi xa mới về, nghe trong người có chút bất thường, đau ngực và lạt
miệng kinh khủng. Giấc ngủ sái giờ, lại biếng ăn. Cả tuần cứ choàng dậy
giữa đêm với mồ hôi ướt cả mình. Trời ạ, chẳng lẽ… Tôi rùng mình nhớ lại
lời ghi trên hai tấm bia mộ kỳ cục kia. Không, máy tôi vẫn còn tốt, chịu khó
bảo trì một chút thôi. Chỉ ngại một điều rằng một nửa nguồn điện cho chiếc
máy của tôi là trong tay một người thiên hạ… Lỡ như có một ngày em muốn
tắt máy từ xa bằng một chút bạc lòng rồi cúp điện thì tôi chỉ còn nước Press
Delete để Re… born!
TOẠI KHANH

Sponsored Post Learn from the experts: Create a successful blog with our brand new courseThe WordPress.com Blog

WordPress.com is excited to announce our newest offering: a course just for beginning bloggers where you’ll learn everything you need to know about blogging from the most trusted experts in the industry. We have helped millions of blogs get up and running, we know what works, and we want you to to know everything we know. This course provides all the fundamental skills and inspiration you need to get your blog started, an interactive community forum, and content updated annually.

LỜI KINH TRONG LÒNG BÀN TAY 07


Trong ngôi chùa kia, có hai thầy trò, ngày nọ người học trọ bỗng
thích trồng hoa.
Khi xong thời kinh, khi hết việc chùa, người học trò lại loay hoay
ngoài vườn, cuốc đất, ươm mầm, giâm cành, tưới nước, chăm hoa.
Thấy học trò say mê ở mãi ngoài vườn với những luống hoa, người
thầy mỉm cười nói:
“Con muốn trồng hoa thì trồng, trồng hoa gì cũng được, làm gì cũng
được, nhưng phải nhớ đừng cho nó mọc rễ!”
Không phải không cho hoa mọc rễ, mà không cho lòng mọc rễ với
hoa, mọc rễ đối với tất cả những việc mình làm. “Mọc rễ” là cố chấp, là
dính mắc, là bám víu, là không buông xuống được, là những khoảnh
khắc chúng ta cố nắm chặt tay lại để giữ một điều gì đó từ cuộc sống.
Đau khổ đến khi chúng ta cố bám vào thứ đã mất đi, hay cố chấp
tiếc nuối đối với một thứ gì đó đã không còn, những chiếc rễ bị đứt lìa
ra theo thứ nó cố bám chặt vào vừa bị cuộc sống lấy đi mất, nên nhất
định phải đau.
Khi để tâm mình “mọc rễ”, bám víu, vào một thứ gì, chúng ta sẽ bị
chính thứ đó làm cho tổn thương.
Buồn cũng được, nhưng đừng để lòng mọc rễ với nỗi buồn, vì chắc
chắn những chiếc rễ sẽ gom góp hết những gì đắng nhất của nỗi buồn
rồi làm thành nỗi đau. Nỗi buồn như một vết trầy xước nhỏ, còn nỗi
đau là một vết thương to; nỗi buồn thì mơ hồ, còn nỗi đau luôn rất
thật.
Vui cũng được, nhưng đừng để lòng mọc rễ với niềm vui, vì chắc
chắn những chiếc rễ sẽ cố gom hết những gì đẹp nhất của niềm vui,
rồi ra sức giữ lại, không muốn mất, không cho mất, không được mất.
Nhưng có thứ gì không mất? Có niềm vui nào không phai? Nên khi cố
bám víu vào niềm vui, ngay lúc đó, thứ đó không còn là niềm vui nữa,
mà bắt đầu trở thành những âu lo.
Làm việc thiện cũng được, nhưng đừng để lòng mọc rễ với những
việc làm thiện, nói mãi về việc làm của mình, muốn ai cũng nghe cũng
biết về việc làm của mình, muốn người nhận phải nhớ, không được
quên, rồi chẳng còn thời gian để làm được thêm một việc nào khác
nữa.
Những chiếc rễ bám vào đất, lâu ngày, sẽ làm cho đất phai màu,
những chiếc rễ cố chấp bám víu vào những việc thiện đã làm, lâu ngày,
sẽ làm cho những việc thiện không còn đẹp như buổi ban sơ nữa.
Khi bám víu vào một suy nghĩ, sẽ bị mắc kẹt trong một suy nghĩ. Khi
bám víu vào việc làm, sẽ bị mắt kẹt trong việc làm. Khi bám víu vào vẻ
bề ngoài, sẽ bị mắc kẹt trong những sắc tướng; và khi cố bám víu vào
sự sống, sẽ mang đến nỗi lo sợ đối cái chết, nỗi lo sợ cái chết làm chúng
ta hoang mang đến cùng cực, không thể bình thản sống trọn vẹn được
một ngày nào.
Không buông xuống được những việc thiện mình đã làm là không
có trí tuệ, không buông xuống được những người mình giúp đỡ là
không có từ bi.
Trong tương lai, khi nhìn lại, có lẽ chúng ta sẽ tự cười nhạo bản
thân vì một số điều đang làm trong hiện tại, dù làm việc thiện, nhưng
vừa không có trí tuệ, vừa không có từ bi.
Người ngủ an.
Vô Thường
Núi 28.3.2021
Om Mani Padme Hum

GIỌT NƯỚC CÓ BUỒN KHÔNG?


Có lần tôi được nghe một bài hát của Trịnh Công Sơn với những ý
lạ, “Biển sóng đừng xô nhau, ta xô biển lại sóng về đâu? Biển sóng
đừng xô ta, ta xô biển lại sóng nằm đâu!” Ông kể, ông viết bài đó do
cảm hứng khi nghe tụng câu kinh Bát Nhã “Gate, Gate, Paragate,
Parasamgate, Bodhi Svaha.”
Ông giải thích ý mình, “Tuy là do cảm hứng bắt nguồn từ câu kinh,
nhưng nó không nương tựa gì câu kinh cả. Tôi muốn nói, sống trong
cuộc đời, ta đừng nuôi thù hận, đừng có ác ý trong cuộc tình. Đừng để
trong tình thương có bóng dáng thù địch, của lòng sân hận. Sóng xô
ta, ta xô lại sóng. Biết bao giờ mới đến được bờ bên kia của tịch lặng,
của bình an!”
Ông nói về những cuộc tình, mà cuộc đời cũng thế, bạn có nghĩ vậy
không? Vì cuộc đời cũng được làm bằng những mối liên hệ giữa ta với
người chung quanh. Mà nếu mỗi lần “sóng xô ta” rồi “ta xô lại sóng”,
thì biết bao giờ biển khổ này mới được yên, tâm hồn này mới được
tĩnh lặng phải không bạn!
Tôi nghĩ sự tu tập trước hết là để đem lại cho ta một tấm lòng. Một
tấm lòng, một con tim rộng lớn, không nhỏ nhen, không nghi kỵ,
không xô đẩy nhau. Một tấm lòng không cô lập, không cố chấp. Một
tấm lòng vững chãi và thảnh thơi có khả năng che chở và soi sáng ta
giữa cuộc đời. Với tấm lòng rộng mở ấy, mọi khổ đau sẽ được chuyển
hóa.
Tôi có thể nói cho bạn nghe về sự cần thiết của sự đổi thay và vô
thường trong cuộc sống. Tôi có thể nói về một thực tại nhiệm mầu.
Tôi có thể kể cho bạn nghe làm sao ta có thể tiếp xúc được với hạnh
phúc, trong khi hiện tại là khổ đau…. Nhưng tôi nghĩ chữ nghĩa thì bao
giờ cũng quá dễ dàng, và nhiều khi còn là thừa thãi! Tôi vẫn còn đang
thực tập những gì mình đã được dạy. Có những ngày thân tôi đau, tâm
tôi bất an, hạnh phúc dường như là chuyện của hôm qua. Những ngày
ấy, tôi bước ra ngoài, tập đi thiền hành trên con đường nhỏ, nhìn trời
xanh mây trắng, có những đàn ngỗng trời bay ngang qua kêu vang
không trung. Tôi tập nương tựa vào sự vững vàng của con đường
mình đi, vào trời xanh mây trắng, vào hạnh phúc của những người
chung quanh. Hạnh phúc đâu phải chỉ có mặt trong một không gian
hoặc thời gian nào giới hạn của riêng tôi! Nó rộng lớn hơn thế. Sự sống
của tôi và bạn không có một đoạn cuối, dầu khổ đau hay hạnh phúc.
Nó là một tiến trình tiếp tục mà ta có thể bắt đầu lại bất cứ một lúc
nào!
Đêm nay trăng sáng yên ngoài cửa sổ. Trong căn phòng viết nhỏ
của tôi có một vùng ánh sáng nhỏ tĩnh lặng. Cho rằng cuộc đời này là
khổ đau, hoặc hạnh phúc, cũng còn là vội vàng và giới hạn quá. Trên
bàn viết, tôi có chép lại một bài thơ của bác Ngọc Quế in trong tập sách
bác gởi tặng nhà hôm nào:
Ngàn năm,
Giọt nước có buồn không?
Sao vẫn long lanh
Dưới ánh hồng
Trên cánh sen vàng
Ai biết được
Ngàn năm
Giọt nước có buồn không?
Đêm đã khuya. Tôi thổi tắt ngọn nến trên bàn. Một làn khói tỏa nhẹ
dưới ánh trăng xanh.
Nguyễn Duy Nhiên

LỜI KINH TRONG LÒNG BÀN TAY (6)


“Những suy nghĩ trong tâm âm thầm tồn tại, đi không ai biết,
đến không ai hay, mơ hồ hơn khói sương nhưng lại rất bền chắc,
buộc giữ con người ở lại trong khổ đau bất an trăm nghìn kiếp.”
Suy nghĩ của một người là số phận của chính họ.
Những suy nghĩ trong tâm như khói như sương, quá mơ hồ để
có thể cảm nhận được, nhưng khi những suy nghĩ đó được lập đi
lập lại mỗi ngày và trở thành một thói quen, lúc này chúng trở
rắn chắc đến mức rất khó để có thể phá vỡ được, chúng lẫn trong
ánh mắt, nằm trong lời nói, và đứng sau tất cả những việc làm
của mỗi người. Miệng nói những gì đang nghĩ, chân đi theo
những gì đang tính toán, tay cố giữ lấy những gì đang mong
muốn, và mắt chỉ nhìn thấy những gì đang tồn tại trong lòng.
Những suy nghĩ trong tâm mơ hồ như sợi khói sương, nhưng
chúng ta dệt thêm cho nó mỗi ngày, bện vào thêm, nối vào thêm,
biến nó thành một sợi dây thật dài và thật chắc, dài vừa đủ vắt
sang một kiếp sống khác, và chắc vừa đủ giữ con người ở lại với
những thói quen của họ.
Những suy nghĩa trong tâm luôn chứa bên trong nó sức mạnh
rất lớn, một thứ năng lượng mà lời nói hay việc làm không thể có
được.
Tất cả hạnh phúc và bất hạnh của con người hoàn toàn phụ
thuộc vào đối tượng mà chúng ta nghĩ đến chúng mỗi ngày. Khi
nghĩ về tình người sẽ đi theo tình người, giữ lấy tình người và
nhìn thấy tình người ở khắp nơi; khi nghĩ về thứ khác sẽ đi về
hướng khác, giữ lấy thứ khác, và nhìn thấy những thứ khác; rồi
càng sống càng xa nhau.
Con đường phía trước của mỗi người còn dài lắm, nên đôi khi,
chỉ cần khác nhau một chút trong suy nghĩ, ngày mai, hai người
sẽ đi xa nhau rất xa, không còn gặp lại nữa.
Ngày mai của chúng ta chính là những thói quen, được tạo ra
từ những suy nghĩ, mà chúng ta đã tích lũy trong suốt những
ngày hôm qua đã sống.
Khó thoát ra nhất là khi bị mắc kẹt trong suy nghĩ của chính
mình, nhất là khi những suy nghĩ đó đã trở thành một thói quen.
Nơi để bước vào một ngôi nhà cũng chính là nơi để bước ra,
chỉ cần đi ngược lại. Chúng ta bước vào bất an bằng suy nghĩ nào
thì cũng chính nơi đó để chúng ta bước ra, bằng cách suy nghĩ
ngược lại.
Có lẽ, do nhịp tim của mỗi người không giống nhau, nên sự
cảm nhận của mỗi người về cuộc sống trở nên khác biệt, mãi cho
đến một ngày, bị ném vào nỗi đau quá lớn, khiến trái tim phải
đau đến lịm đi, và đập lại thật chậm, từng nhịp thật nhẹ như
nhau, lúc này, mới thấy cuộc sống ngoài kia gần giống nhau.
Mong người luôn an.
Vô Thường
Núi 17.3.2021
Om Mani Padme Hum

LỜI KINH TRONG LÒNG BÀN TAY


“Như dòng sông chảy xiết, nước trôi mãi về xuôi; kiếp sống của con người, bước
đi không quay lại.”
Người không thể quay lại không phải chỉ một mình ai, mà là tất cả chúng ta, tất
cả đều không thể, vì cuộc sống không có đường để quay trở lại.
Không thể gom hết từng giọt nước cam để làm lại thành một quả cam nguyên
vẹn, không thể nối những mẩu than đã cháy đen để tìm lại một cây xanh; thời gian
đã vắt kiệt tuổi trẻ, tháng năm đã đốt cháy rụi hết ngày hôm qua, nên dù cố quay
đầu nhìn lại bao nhiêu lần, cũng không thể quay lại được ngày hôm qua. Nơi chúng
ta có thể quay lại chỉ là những kí ức đã được cất giữ trong lòng, không phải ngày
hôm qua.
Cuộc sống như dòng sông, dòng sông thời gian, dòng sông sinh diệt vô thường, ai
càng cố đứng yên một chỗ, không muốn bị dòng thời gian đẩy đi, muốn được trẻ
mãi, muốn những người thân yêu vẫn luôn còn ở đó, muốn những thứ đang có trong
tay không mất, muốn những gì mình yêu thích không tàn phai; kẻ đó nhất định phải
khổ, phải mệt rất nhiều như một người đang cố bơi ngược dòng nước lũ.
Cuộc sống như dòng sông, chảy dài kiếp phù sinh.
Chúng ta không thể trở lại ngày hôm qua, để làm thêm một chút gì đó cho những
dở dang được trọn vẹn, hay để nói một câu gì đó mà ngày xưa chưa kịp nói, nhưng
chúng ta có thể quay lại và tự ôm lấy mình bằng một cái ôm thật ấm, rồi đi tiếp.
Khi càng cố quay lại quá khứ, chúng ta càng bỏ quên hiện tại, làm cho hiện tại trở
nên mịt mù.
Dòng sông ngoài kia, dù sớm hay muộn, tất cả đều về đến đích, vì nó biết cách
tránh những chướng ngại vật; nhưng chúng ta, không phải ai cũng biết cách vượt
qua chướng ngại để đến được nơi mong muốn của mình.
Dòng sông ngoài kia, khi cùng đường, chúng không bao giờ do dự rồi dừng lại,
mà bình thản đi tiếp, bước qua nỗi sợ hãi và tuyệt vọng đang ở ngay trước mắt, rồi
biến mình thành một dòng thác kì diệu. Con người, mấy ai có thể bước qua nỗi sợ
hãi của mình như một dòng sông?
Dòng sông sẽ hòa vào đại dương, và con người, ai cũng sẽ cô độc trong bước chân
cuối cùng khi cuộc hành trình của mình kết thúc, nhưng dù có cô độc cũng phải cô
độc trong bình yên.
Cho dù cuộc sống đưa đẩy đến đâu, chúng ta hãy tìm thấy nhau bằng một nụ cười.
Mong người luôn an.
Vô Thường
Om Mani Padme Hum

DÙ THẾ SỰ CÓ THẾ NÀO THÌ CHÁNH PHÁP VẪN LUÔN MIÊN VIỄN


Người Phật tử khi đã xác quyết với Tứ bất hoại tín, ấy là tin Phật, tin Pháp,
tin Tăng, tin vào thánh giới thì dù thế sự có thế nào thì tâm vẫn luôn kiên định,
không lung lay. Xây dựng niềm tin là vấn đề căn bản của người đệ tử Phật. Niềm
tin ở đây luôn có sự suy xét của lý trí, sau khi thấu hiểu rồi mới tin theo chứ
không tin một cách mù quáng.
Nhiều người khi thấy một vài biểu hiện không chánh đáng trong Phật giáo
liền cho rằng chánh pháp hoại diệt hay gán cho một khái niệm đó là dấu hiệu
của thời kỳ mạt pháp. Rồi thối tâm, để mặc cho chúng trôi theo dòng đời, dẫn
đến khổ đau muộn phiền. Trên thực tế, chánh pháp không bao giờ mạt mà lòng
người mạt và đạo đức nhân tâm suy đồi. Biết được như vậy, ta không mất niềm
tin nơi Tam bảo, mà quyết tâm bảo vệ đạo pháp.
Thời Phật tại thế những dấu hiệu suy giảm đạo đức cũng từng xảy ra.
Nhóm lục quần Tỳ-kheo là những ví dụ điển hình. Câu chuyện tại Kosambi khi
vị sư trì luật và vị sư trì kinh tranh cải nhau dẫn đến bất hòa trong Tăng chúng,
đến nổi Đức Phật phải bỏ vào rừng ẩn cư tu tập, cho đến khi mọi người thành
tâm sám hối, mâu thuẩn chấm dứt Đức Phật mới trở về.
Có lần tôn giả Đại Ca Diếp thắc mắc vì sao trước đây khi Phật chưa chế
giới, Tăng chúng ít hữu lậu xảy ra, chúng Tỳ-kheo ham học; còn ngày nay giới
luật được chế thêm nhiều thì chúng Tỳ-kheo lại ít học tập. Đức Phật giải thích vì
chúng sanh đạo đức suy giảm nên học giới nhiều mà ít người chứng đắc thánh
trí.
Ngài nói thêm: “Này Ca-diếp, thí như lúc kiếp sắp chuyển hoại, tuy vật báu
thật chưa diệt mất, nhưng vật báu ngụy tạo tương tợ lại xuất hiện ở thế gian.
Khi vật báu ngụy tạo xuất hiện, vật báu thật sẽ mất. Cũng vậy, Ca-diếp, Chánh
pháp Như Lai lúc sắp muốn diệt, lại có tượng pháp sanh ra. Khi tượng pháp đã
xuất hiện ở thế gian rồi, Chánh Pháp sẽ bị diệt.”
Qua đó, có thể thấy, ngay thời Đức Phật còn tại thế, đã có hiện tượng các
Tỳ kheo phóng túng. Tuy nhiên, Chánh pháp Như Lai vẫn lưu xuất trong thế gian
vì đã có những đệ tử của Phật biết nghiêm tri giới luật, thực hiện đúng lời dạy
của Ngài. Nhờ luôn có những bậc chân tu đáng kính biết rõ giá trị giáo pháp của
đấng Từ phụ và thực hành đúng, Chánh pháp Như Lai đã tồn tại trên thế gian;
được truyền bá ở Châu Á rồi được lưu truyền đến tận ngày nay trên khắp thế
giới. Mặc dầu vậy, Đức Phật đã cảnh giác về sự xuất hiện của tượng pháp, là pháp
tương tự, có vẽ giống với Chánh pháp nhưng thực ra đã bị xuyên tạc, và nguy
hiểm ở chỗ mọi người cứ tưởng giáo pháp đã bị xuyên tạc như vậy là Chánh
pháp đã được Đức Phật đích thân giảng dạy.
Những câu chuyện về sự tích giới luật được ghi lại trong luật tạng cũng có
nội dung tương tợ như vậy. Theo truyền thống, các Đức Phật chỉ thành lập giới
điều khi cần thiết, khi có đầy đủ nguyên nhân và điều kiện. Nghĩa là khi có một
hiện tượng hữu lậu xảy ra làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Tăng đoàn,
Đức Phật liền chế định một giới điều tương ứng nhằm ngăn chặn các pháp hữu
lậu khác diễn ra.
Ngài dạy: “Này Tôn giả, Ta biết thời phải làm gì, nay chưa tới thời nên Ta
chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì
Như Lai mới chế giới.”
Như vậy, các hiện tượng hữu lậu xảy ra trong Tăng đoàn thời Phật là bằng
chứng xác minh tâm tánh chúng sinh và sự cần thiết của giáo pháp để đối trị.
Nói như vậy không phải để biện hộ cho những hành động xảy ra bây giờ là điều
tất yếu. Thời nay đạo đức suy đồi, lòng người tham đắm nhiều nên chúng ta
đang xa Phật, xa rời Chánh pháp. Tuy nhiên cho dù thế sự có thế nào đi nữa thì
chánh pháp vẫn là miên viễn. Trong tám đặc tính của biển, có một đặc tính đó
là: “Nếu biển không vơi đi thì cũng không đầy thêm dù đêm ngày muôn sông
liên tục chảy về biển cả, chánh pháp cũng vậy, chánh pháp là chánh pháp, không
phải vì nhiều người đi theo mới là chánh pháp, hay không phải ít người đi theo
mà chánh pháp không phải là chánh pháp. Sự thịnh suy của nhân tình thế thái
không bao giờ đánh giá được chân lý của đạo pháp này.”
Lời khẳng định trên cho chúng ta thấy, chân lý mà Đức Phật tuyên thuyết
luôn khế lý, khế cơ và khế thời. Lời Phật dạy là bất hư vọng ngữ, bất cuống vọng
ngữ, chân thật bất hư. Lời kinh luôn đúng với chân lý, hợp với căn cơ của chúng
sanh mà thời đại nào cũng phù hợp. Những pháp như Tứ đế, Thập nhị nhân
duyên, Vô thường, Vô ngã luôn có giá trị miên viễn. Hơn hai ngàn mấy năm qua,
cho đến bây giờ những giáo pháp ấy vẫn còn nguyên giá trị.
Trong thời gian qua, nhiều ý kiến cho rằng dân số Phật tử Việt Nam và
trên thế giới suy giảm. Những thống kê chưa chính xác nhưng cũng gây ảnh
hưởng đến trong nhận thức của người con Phật. Thực tế không phải xây dựng
chùa to Phật lớn hay đông đúc Phật tử mới gọi là Phật pháp hưng thịnh. Mà ở
nơi nào, người con Phật thực tu, thực học và có sự chứng ngộ tâm linh thì nơi
đó chánh pháp hưng thịnh. Sự thịnh suy của nhân tình thế thái không đánh giá
được chân lý của đạo pháp này. Bởi chánh pháp là chánh pháp, đó là chân lý
miên viễn không giới hạn bởi không gian và thời gian. Dù ở đâu, bất cứ khi nào
thì chân lý ấy vẫn vậy. Chúng ta nghe lời khẳng định của Tôn giả A-nậu-lâu-đà
rằng:
“Bạch Thế Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên nóng, mặt trời có trở nên
lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Như Lai đã dạy không thể nào thay đổi
được. Khổ đế là thực trạng đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ, thương yêu mà phải chia
lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân thể là khổ. Diệt đế là trạng thái hết sạch mọi
đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế là con đường dẫn
đến an lạc, là tám chánh đạo, là trung đạo, không có con đường nào khác.” (Kinh
Di Giáo)
Là người con Phật, nên nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng trên thế
gian này đều chuyển biến, vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì
để quyến luyến, thương tâm. Cuộc đời là như thế, nên cần phải nỗ lực tinh tấn
để tu tập thành tựu giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê.
Đời là một sự vận hành không kiên định. Do đó, người con Phật hãy vững tâm
an định không lung lay trước sự thịnh suy của cuộc đời. “Nhậm vận thịnh suy
vô bố úy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”
Thành ra, muốn chánh pháp cửu trú trên thế gian, người con Phật phải
hành trì theo lời chánh pháp.
Đức Phật dạy: “Có năm pháp, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến
mất của diệu pháp. Thế nào là năm? Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheoni,
nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Đạo Sư (đức Phật), sống
kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống
kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định. Chính năm
pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu
pháp.”
Tóm lại, khi nào còn có người tôn trọng, kính trọng Đức Phật, kính trọng
Chánh pháp và kính trọng chúng Tăng, tôn kính các học giới thì khi đó chánh
pháp vẫn còn tồn tại. Đây là thước đo chính xác nhất để nhận biết chánh pháp
tồn tại hay không tồn tại trên thế gian này. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai hãy
noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là cách làm cho pháp thân
Như Lai thường còn, chánh pháp thường còn và mãi mãi bất diệt ở thế gian.
Thích Trung Định

TÂM và TRÍ

  1. Chỉ có một cuốn sách đáng đọc nhất, đó là tâm của chính mình.
  2. Đức Phật dạy chúng ta hãy vất bỏ tất cả những gì làm tâm ta đau
    khổ trong khi hành thiền. Phiền não đau khổ, chứ không phải tâm đau
    khổ. Chúng ta chẳng biết cái gì là tâm, cái gì là phiền não. Những gì
    không làm ta thỏa mãn thì ta không muốn gặp. Cuộc sống của chúng
    ta chẳng khốn khổ gì! Cái khốn khổ ở đây là không thỏa mãn, không
    hài lòng với cuộc sống. Thật vậy, chỉ có phiền não khốn khổ mà thôi.
  3. Thế gian đang ngùn ngụt cháy. Trong sự nóng bỏng này, tâm thay
    đổi từ yêu sang ghét. Biết cách làm cho tâm an tịnh tĩnh lặng sẽ đem
    lại lợi ích lớn lao cho thế gian.
  4. Nếu tâm bạn an lạc hạnh phúc thì ở nơi nào bạn cũng an lạc hạnh
    phúc. Khi trí tuệ khai nở trong tâm bạn thì bất kỳ nơi nào bạn nhìn
    đến cũng đều là chân lý. Chân lý ở khắp mọi nơi, chẳng khác chi một
    khi đã biết đọc chữ thì ở đâu bạn cũng có thể đọc chữ được.
  5. Nếu bạn cảm thấy không hài lòng ở một nơi, bạn sẽ cảm thấy
    không hài lòng ở mọi nơi. Chẳng có nơi nào bên ngoài làm bạn khó
    chịu. Nơi khó chịu nằm bên trong bạn.
  6. Hãy nhìn vào tâm mình. Người mang vật nặng chẳng thấy gì,
    nhưng người ngoài nhìn vào thấy nặng. Vất bỏ mọi vật, buông bỏ tất
    cả, bạn sẽ nhẹ nhõm.
  7. Tâm vốn an tịnh tĩnh lặng. Khi tâm ra khỏi an tịnh tĩnh lặng thì
    bất an rối loạn sẽ nhảy vào. Khi nhìn thấy được bất an rối loạn này thì
    an tịnh tĩnh lặng sẽ trở về.
  8. Phật giáo là đạo của tâm. Thế thôi! Người nào đào luyện tâm,
    người đó thực hành Phật giáo.
  9. Khi đèn mờ, bạn không thể thấy màng nhện giăng ở góc phòng,
    nhưng lúc đèn sáng bạn có thể thấy rõ ràng để quét sạch đi. Cũng vậy,
    khi tâm trong sáng bạn sẽ thấy rõ phiền não để khử trừ.
  10. Huấn luyện tâm không giống như huấn luyện cơ thể. Muốn cơ
    thể mạnh phải bắt cơ thể vận động, nhưng muốn tâm mạnh phải giữ
    tâm đứng yên.
  11. Vì không nhìn thấy chính mình nên người ta làm mọi điều sai
    lầm. Họ không nhìn vào chính tâm mình. Khi sắp làm điều gì sai quấy,
    họ nhìn trước, ngó sau xem thử có ai nhìn thấy không:
    Mẹ mình thấy không? Chồng mình thấy không? Vợ mình thấy không?
    Con mình thấy không? Nếu không ai thấy, họ vội làm ngay. Đó là họ tự
    nhục mạ chính mình. Có một điều họ quên mất là chính họ cũng đang
    nhìn thấy họ đấy!
  12. Hãy dùng tâm để nghe giáo pháp, đừng dùng tai.
  13. Chiến đấu với phiền não là chiến đấu bên trong. Dùng bom đạn
    súng ống để đánh nhau là chiến đấu bên ngoài. Chiến thắng kẻ khác là
    đường lối của thế gian. Chiến thắng chính mình là đường lối của giáo
    pháp. Chúng ta không chiến đấu để chống lại ai cả mà chiến đấu để
    chinh phục chính tâm mình, kiên trì chống lại mọi tình cảm xung động
    của chính mình.
  14. Nước mưa đến từ đâu? Nó đến từ những nguồn nước dơ bẩn
    trên mặt đất và bốc hơi mà thành. Thật kỳ lạ làm sao? Đối với phiền
    não, tâm bạn cũng có thể làm được như vậy, nếu bạn để nó làm.
  15. Đức Phật dạy chúng ta hãy xét đoán chính mình mà đừng xét
    đoán kẻ khác dầu họ tốt xấu thế nào đi nữa. Đức Phật chỉ chỉ cho ta
    con đường và nói: “Chân lý là như vậy đó”.
    Tâm ta có được như vậy không?
    Chẳng Có Ai Cả
    Tác giả: Ajahn Chah
    Dịch giả: Khánh Hỷ

CÁCH TU TẬP CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA


Thiền Sư Ajahn Chah
Bạn thường hỏi về cách tu hành của người tại gia. Đời sống gia
đình vừa khó lại vừa dễ – khó làm, nhưng dễ hiểu. Chẳng khác gì
bạn đến đây than phiền với tôi về một cục than đỏ mà bạn đang
nắm trong tay. Nhưng khi tôi bảo bạn bỏ nó xuống, thì bạn la lên:

  • Không. Tôi không thể làm vậy. Tôi chỉ muốn cho nó nguội đi.
    Bạn chỉ có hai cách. Một là bạn bỏ nó xuống, hai là bạn phải vô
    cùng nhẫn nại. Bạn hỏi:
  • “Làm sao tôi có thể vứt bỏ nó được?”
    Bạn có thể vứt bỏ gia đình của mình không? Hãy buông bỏ nó
    trong tâm của bạn. Buông bỏ sự ràng buộc bên trong. Giống như
    một con chim đã đẻ trứng, bạn có trách nhiệm phải ấp trứng. Nếu
    không trứng sẽ thối.
    Có thể bạn muốn những người trong gia đình tôn trọng và thông
    cảm lý do bạn hành động theo một cách nào đó, nhưng có thể họ
    cố chấp và hẹp lượng với bạn. Nếu người cha là kẻ trộm, và đứa
    con không chấp thuận hành động đó, thì đứa con có phải là một
    người xấu không? Hãy cố gắng giải thích cho họ hiểu, và rồi đừng
    nghĩ đến vấn đề đó nữa. Nếu bạn bị bệnh và đến gặp bác sĩ, nhưng
    tất cả thuốc men của ông ấy không thể chữa lành bệnh của bạn.
    Trong trường hợp đó, bạn có thể làm gì khác hơn ngoại trừ chấp
    nhận thực trạng và cứ an nhiên.
    Nếu bạn cứ nghĩ rằng đó là gia đình của tôi, sự tu hành của tôi –
    thói quen xem mình là trung tâm của mọi việc cũng là một nguyên
    nhân của đau khổ. Đừng cố tìm kiếm hạnh phúc, dù khi sống một
    mình hay sống với người khác. Hãy cứ sống trong giáo pháp. Phật
    pháp giúp chúng ta giải quyết mọi vấn đề, nhưng trước hết chúng
    ta phải tu hành để có trí huệ. Bạn không thể bỏ gạo vào nồi nước,
    là có thể có cơm ăn ngay. Bạn phải nhóm lửa, và nấu gạo một hồi
    cho chín thành cơm. Với trí huệ, mọi vấn đề cuối cùng đều có thể
    được giải quyết. Hơn nữa, nhận biết đời sống gia đình, bạn sẽ hiểu
    rõ luật nhân quả, và rồi bạn sẽ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến
    cách cư xử của mình.
    Tu hành với một đoàn thể, trong một thiền viện, hay tại một cuộc
    bế quan thì không khó lắm. Bạn sẽ cảm thấy ngượng ngùng nếu
    không ra ngồi thiền với những người khác. Nhưng khi bạn về nhà,
    bạn cảm thấy khó, vì biếng nhác hay vì không có thời giờ. Bạn cho
    đi năng lực của bản thân, và hướng nó vào những người khác,
    những hoàn cảnh hay vị thầy bên ngoài bạn. Hãy thức tỉnh! Bạn
    có thể tạo ra một thế giới riêng cho chính mình. Điều quan trọng
    là bạn có muốn tu hành hay không?
    Các tăng sĩ chúng tôi ở đây phải phấn đấu với những giới luật
    và lối tu khổ hạnh, để phát triển sự kỷ luật bản thân dẫn tới giải
    thoát. Các bạn, những người tại gia, cũng phải nỗ lực như vậy.
    Khi tu hành tại gia, bạn nên cố giữ những giới luật căn bản một
    cách tinh tế hơn. Cố gắng kiểm soát hành động và lời nói. Hãy nỗ
    lực tu hành. Về việc tập trung tư tưởng, đừng nản lòng chỉ vì bạn
    mới thử một vài lần và chưa cảm thấy bình an. Tại sao sự tập trung
    tâm trí phải cần một thời gian lâu dài? Tại sao không tự hỏi bạn
    đã cho phép đầu óc lôi kéo mình đi lung tung bao lâu rồi? Vậy thì
    chẳng có gì ngạc nhiên nếu bạn vẫn chưa thể làm cho tâm trí tĩnh
    lặng sau một vài tháng.
    Dĩ nhiên, huấn luyện đầu óc là một điều khó khăn. Khi con ngựa
    quá cứng đầu, đừng cho nó ăn một lúc – nó sẽ biết nghe lời. Khi
    nó bắt đầu đi đúng đường, hãy cho nó ăn chút ít. Sự kỳ diệu của
    đời sống chúng ta là, đầu óc có thể được huấn luyện. Với nỗ lực
    đúng đắn, chúng ta có thể đạt được tuệ giác.
    Để sống tại gia và tu hành chính pháp, bạn phải sống trong thế
    gian, nhưng vượt lên trên thế gian. Đức hạnh, bắt đầu với ngũ giới,
    là điều vô cùng quan trọng- đó là nguồn gốc của mọi điều thiện.
    Giới luật là cơ sở để xóa khỏi tâm mọi ý niệm sai lầm, xóa bỏ
    nguyên nhân của mọi đau khổ và âu lo. Hãy trì giới thật rõ ràng.
    Rồi tập hành thiền khi hoàn cảnh cho phép. Có lúc bạn thiền rất
    tốt, có lúc thì không. Đừng bận tâm về việc này. Cứ tiếp tục. Nếu
    tâm khởi niệm nghi ngờ, hãy nhận biết rằng chúng, cũng như mọi
    thứ khác trong tâm, đều vô thường cả.
    Nếu bạn kiên trì, thì sẽ định được tâm. Hãy dùng định tâm này
    để phát triển trí huệ. Nhận biết mọi cảm giác yêu ghét sinh khởi
    từ các giác quan mà không dính mắc vào chúng. Đừng nôn nóng
    có kết quả hay tiến bộ nhanh chóng. Một đứa bé phải tập bò, và
    tập đi, rồi mới có thể chạy được. Cứ nghiêm trì giới luật và tiếp tục
    hành thiền.
    Trích: Tâm Tĩnh Lặng – Minh Vy dịch

CẦU AN THEO TINH THẦN KINH PHƯỚC ĐỨC

Mahamangala Sutta thuộc Sutta Nipata II, Tiểu Bộ kinh I, Thiền sư Thích Nhất
Hạnh dịch là Kinh Phước Đức, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Điềm
Lành Lớn (Kinh Đại Hạnh Phúc), một bản kinh cầu phước đức rất nhiệm mầu,
hiệu ứng an lành đích thực cho những ai tụng đọc, thực hành và ứng dụng trong
đời sống hàng ngày. Vào các ngày đầu xuân, những người con Phật lên chùa
dâng hương cầu nguyện, mong ước một năm mới bình an, thịnh vượng. Bên
cạnh việc lễ bái, cầu nguyện, cúng dường v.v…, nếu người nào hữu duyên được
đọc tụng và hành trì theo kinh Phước Đức thì chắc chắn sẽ gặt hái được phước
báo vạn sự cát tường như ý.
Bản kinh Phước Đức ngắn gọn, súc tích, nghĩa lý rõ ràng có thể đưa vào kinh
Nhật tụng để mọi người đọc tụng mỗi ngày. Duyên khởi để Thế Tôn ban pháp
thoại này phát xuất từ lời thỉnh cầu của một vị Trời mong muốn biết và thực
hành gieo trồng phước đức nhằm xây dựng đời sống an lành. Chư thiên là loài
được xem là có phước đức hơn hết so với các loài trong lục đạo mà còn thỉnh ý
Thế Tôn nói về phước đức để kiện toàn phước báo cho tự thân, huống gì loài
người, và nhất là Phật tử chúng ta.


Lánh xa kẻ xấu ác
Được thân cận người hiền
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất.

Theo Thế Tôn, phước đức lớn nhất, trước tiên là phát huy tuệ giác, thành tựu
chánh kiến. Một trong những biểu hiện của chánh tri kiến là thấy rõ thiện và ác
cùng với gốc rễ của nó (Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ I). Thấy rõ điều ác và
người ác để tránh xa, đồng thời thấy rõ điều thiện và người hiền để thân gần,
tôn kính các cá nhân đức hạnh, bậc mô phạm về đạo đức trong xã hội… chính là
những nhân tố cực kỳ quan trọng để thành tựu phước đức. Đặc biệt, sự “tôn
kính bậc đáng kính” vô cùng cần thiết cho việc thành tựu phước đức của cá nhân
và cả quốc gia, xã hội. Bậc đáng kính là người có tài đức, bậc hiền tài, là nguyên
khí của quốc gia. Thiếu trân quý, không trọng dụng hiền tài hoặc đặt để không
đúng người, đúng việc, làm lãng phí tài và đức là một trong những nguyên nhân
quan trọng khiến cho phước đức của quốc gia suy giảm.


Sống trong môi trường tốt
Được tạo tác nhân lành
Được đi trên đường chánh
Là phước đức lớn nhất.

Mỗi người đều có quyền lựa chọn môi trường sống và làm việc cho chính
mình. Tất nhiên, thực tế thì ít khi toàn diện, được cái này thì mất cái kia, song
điều cần tỉnh giác ở đây là những thuận lợi về phương diện vật chất không phải
lúc nào cũng cần thiết để cho chúng ta nhắm mắt và sẵn sàng đánh đổi. Cần bình
tâm để nhận diện rằng được sống, làm việc, học tập và phụng sự trong môi
trường lành mạnh sẽ tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách cao
thượng. Nhờ sống trong môi trường đạo đức và trí tuệ, xung quanh hầu hết là
người tốt nên ta dần trở nên chín chắn, hiền thiện và an lành hơn.


Có học, có nghề hay
Biết hành trì giới luật
Biết nói lời ái ngữ
Là phước đức lớn nhất.


Kinh nghiệm của tiền nhân cho thấy “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Có
chuyên môn cao ở bất cứ lĩnh vực nào cũng đều hữu dụng, mang lại lợi ích thiết
thực cho tự thân, gia đình và xã hội. Có tài năng nhưng phải được đạo đức định
hướng và dẫn dắt thì mới xứng hiền tài. Tài mà không hiền thì vẫn vô phước vô
phần, đôi khi trở nên cực kỳ nguy hiểm nếu họ cậy tài để làm ác. Mặt khác, người
có tài thì không nên tự cao, quát nạt, giấu nghề mà ngược lại, luôn sẵn sàng chia
sẻ kinh nghiệm, dìu dắt và đào tạo thế hệ kế thừa với tất cả lòng thành, khiêm
tốn và yêu thương. Được như vậy, xã hội ngày càng trở nên hoàn thiện, đất nước
ngày càng phát triển ổn định hơn. Do đó mỗi chúng ta, nhất là các bạn trẻ phải
lập chí học hành để có một nghề nghiệp chân chính, có trình độ chuyên môn và
thu nhập cao, phục vụ nhiều hơn cho cộng đồng. Đó chính là một trong những
phương diện của phước đức.


Được cung phụng mẹ cha
Yêu thương gia đình mình
Được hành nghề thích hợp
Là phước đức lớn nhất.

Những ai từng vì cuộc mưu sinh mà phải xa cha mẹ và người thân, sống nhờ
nương nơi đất khách quê người, nhất là phải làm công việc nghịch tay trái nghề,
mới thấm thía về sự thiếu phước. Ấy vậy mà có khá nhiều người đang nắm giữ
phước đức trong tay nhưng lại không tự biết, thậm chí còn rúng rẫy xem thường
khi đang có một công việc yêu thích ở gần nhà cùng với cha mẹ và những người
thân. Cho nên, khi còn duyên lành sống với cha mẹ, anh em trong gia đình thì
phải hiếu thuận hết lòng, có việc làm thích hợp (dù thu nhập không cao) cũng
nên tận tâm vì đó là những chất liệu hình thành nên nguồn vui sống. Chính niềm
hòa hiếu an vui của chúng ta, điều mà không thể đem các giá trị khác như danh
tiếng, giàu sang để có thể hoán đổi, nên mới gọi là phước đức lớn nhất.

Sống ngay thẳng, bố thí,
Giúp quyến thuộc, thân bằng
Hành xử không tì vết
Là phước đức lớn nhất.

Một người làm ăn lương thiện, tạo dựng cơ nghiệp từ bàn tay và khối óc của
chính mình chính là phước đức lớn nhất. Càng phước đức hơn khi cuộc sống của
bản thân đã tạm ổn, người ấy biết phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ người thân và
sẻ chia với mọi người xung quanh, nhất là những người đang thực sự thiếu thốn.
Sống trung thực, ngay thẳng, nhìn về quá khứ không có bất cứ điều gì phải dằn
vặt, bận lòng. Tâm hồn trong sáng, hành xử đúng với ta mà cũng phải với người
cùng với niềm kính trọng, yêu thương là nền tảng của bình an. Thiết lập được
bình an là thành tựu phước đức.

Tránh không làm điều ác
Không say sưa nghiện ngập
Tinh cần làm việc lành
Là phước đức lớn nhất.

Phước đức hình thành và tăng trưởng nhanh nhất khi chúng ta biết siêng
năng làm các điều lành. Một người khi phát nguyện làm các điều lành thì đồng
nghĩa với không làm các điều ác. Điều lành luôn mang các thuộc tính có lợi ích
cho mình và người, tạo ra hiệu ứng an lành trong hiện tại và tương lai. Một điều
rất thú vị ở đây là để tạo phước đức cho bản thân bằng cách làm các hạnh lành
thì tuyệt nhiên không dính vào say và nghiện. Vì không nhiều người chú ý đến
khía cạnh này nên chủ quan không cảnh giác rồi đánh mất mình khi lỡ sa vào
say và nghiện. Nói cách khác, say sưa và nghiện ngập là hai yếu tố quan trọng
khiến tổn giảm phước đức nhanh chóng. Do vậy, muốn tạo dựng và giữ gìn
phước đức của bản thân thì hãy luôn tỉnh táo, làm chủ được mình.

Biết khiêm cung lễ độ
Tri túc và biết ơn
Không bỏ dịp học đạo
Là phước đức lớn nhất.

Thành tựu phước đức rất khó, nhưng khi có chút phước rồi mà người hưởng
phước biết khiêm cung, lễ độ với mọi người đồng thời luôn biết vừa đủ và tri ân
lại càng khó hơn. Cái sự đời “giàu đổi bạn, sang đổi vợ” xưa nay không phải là
chuyện hiếm. Có phước mà không biết gìn giữ và vun bồi nên chắc chắn sau một
thời gian phước đức sẽ suy giảm. Với những người khi đã có cái ăn, cái mặc và
chỗ ở rồi thì điều quan trọng không phải là cố gắng làm cho vinh thân phì gia
thêm để thụ hưởng mà chính là vấn đề tu dưỡng phát huy đạo đức, an tịnh và
thăng hoa tâm hồn. Những ai làm được như vậy thì phước đức ngày càng tăng
thêm.

Biết kiên trì, phục thiện
Thân cận giới xuất gia
Dự pháp đàm học hỏi
Là phước đức lớn nhất.

Đi chùa, làm việc thiện, đi nghe pháp thoại, học đạo, tham thiền v.v… chính
là những việc làm cao thượng, mang lại phước đức to lớn. Có nhiều vấn đề mà
tiền bạc không mua được, danh vọng không đánh đổi được và uy quyền không
lung lạc được… và chỉ có học đạo, tham thiền mới có thể giải quyết rốt ráo, mang
lại niềm an ổn cho con người. Xưa kia thái tử Siddhartha và sau là vua Trần Nhân
Tông từ bỏ ngai vàng lên rừng tu đạo chính là đi tìm sự an tâm. Khi tâm đã an
thì muôn sự đều bình an. Và chỉ có chuyên tâm học đạo mới có thể thành tựu
phước đức to lớn này.

Sống tinh cần, tỉnh thức
Học chân lý nhiệm mầu
Thực chứng được Niết-bàn
Là phước đức lớn nhất.

Trong quá trình hướng nội, thanh lọc thân tâm thì chứng đạt Niết-bàn là
phước đức lớn nhất. Sự siêng năng chuyên cần tu tập, duy trì sự tỉnh thức
thường trực là những nhân tố quan trọng để thành tựu đạo quả. Niết-bàn là sự
giải thoát khỏi tất cả những ràng buộc phiền não, là ánh sáng phá tan u ám của
bóng tối si mê, là sự chấm dứt khổ đau luân hồi sanh tử. “Việc nên làm đã làm,
gánh nặng đã đặt xuống” rồi, hành giả thong dong tự tại làm đẹp cho đời.

Chung đụng trong nhân gian
Tâm không hề lay chuyển
Phiền não hết, an nhiên,
Là phước đức lớn nhất.

Với tâm giải thoát tự tại, hành giả an nhiên bất động trước vô vàn biến động,
tự tại vào ra trong sanh tử để cứu độ chúng sanh, làm đẹp cuộc đời như sở hành
của vị Bồ-tát, đây không chỉ là phước đức cho một người mà tất cả cộng đồng,
nhân loại.


Thật rõ ràng, xuyên suốt nội dung bản kinh Thế Tôn dạy về “làm” phước mà
không hề có chuyện “xin” phước. Nên trong đạo Phật có chủ trương cầu nguyện
mà tuyệt không có cầu xin. Vì Phật không trực tiếp ban phước cho ta an lành mà
chỉ dạy phương cách rồi chúng ta phải tự thực tập, hành trì để tạo ra phước đức
và được bình an.
Mong ước được an lành chính là một sự phát nguyện vun bồi phước đức tự
thân, được thể hiện qua sự chuyển hóa ba nghiệp thân miệng ý theo hướng thiện
lành. Do đó, bình an và phước đức có thể tạo dựng ngay bây giờ và ở đây.

QUẢNG TÁNH