THẾ NÀO LÀ NGàMẠN?


Tể tướng Quách Tử Nghi đời nhà Đường là một chính khách lỗi lạc cũng
là một vị tướng tài ba. Sự thành công của ông trên cả hai phương diện chính
trị và quân sự khiến cho ông được cả nước ngưỡng mộ như một anh hùng
thời đại. Nhưng danh vọng, quyền lực, giàu sang và thành công đã không
xao lãng được lòng ưa thích và sùng mộ của vị tể tướng đối với Phật pháp.
Tự coi mình như là một Phật tử bình dị, khiêm tốn và nhiệt thành, ông
thường viếng vị Thiền sư ưu ái của mình để tham học.
Ông và vị Thiền sư dường như rất hợp nhau. Sự kiện ông giữ chức tể
tướng và địa vị xã hội cao thời xưa ở Trung quốc, dường như không có ảnh
hưởng gì đến sự kết giao của họ. Hiển nhiên không có dấu vết lễ phép đáng
kể nào về phía Thiền sư hay sự trịch thượng rởm nào về phần quan tể tướng
hiện diện trong mối quan hệ của họ, dường như đây là một quan hệ thuần
túy trong đạo giữa một bậc tôn sư và một đệ tử thuần thành.
Tuy nhiên, một hôm Quách Tử Nghi đến viếng Thiền sư như thường lệ
và hỏi một câu như vầy:
“Bạch hòa thượng, Phật giáo giải thích ngã mạn như thế nào?”
Thiền sư mặt bỗng biến xanh, bằng một phong thái đầy cao ngạo và khinh
khi, nói với quan tể tướng: “Này thằng ngu, ngươi nói cái gì?”
Sự khinh thị thách thức này đã xúc phạm đau đớn phạm tình cảm của vị
tể tướng đến độ mặt ông ta bắt đầu tỏ vẻ giận dữ.
Lúc ấy Thiền sư mỉm cười, nói: “Thưa ngài, đấy chính là ngã mạn.”
Trích “GÓP NHẶT CÁT ĐÁ”
THIỀN SƯ MUJU
Người dịch: ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG

HŨ GẠO


Bà Hai ngồi đó,bên mâm cơm chừng đã nguội hết thức ăn, lưng chén cơm
trước mặt sao nghe no ngang,toàn những món con trai và con dâu Bà thích.
Từ sáng sớm,Bà đã đi chợ, sơ chế sẵn để tủ lạnh, chuẩn bị cho bữa cơm chiều.
Bữa cơm gia đình trong ngày, Bà cũng thường xuyên một mình đối diện với
mâm cơm vì những cuộc đột xuất tiếp khách trong việc làm ăn của con. Căn
nhà trở nên rộng hơn, không một âm thanh…
Chan miếng canh vào chén cơm cho dễ nuốt, Bà dùng thìa múc từng
muỗng một cách thờ ơ, sự va chạm nhỏ cũng tạo nên tiếng vang rất rõ, vọng
lại từ nỗi cô đơn xế chiều. Nhìn thố cơm trắng còn đầy nguyên, Bà chợt nhớ
đến cái hũ gạo ngày xưa… Khi cái lon đong gạo chạm đáy, âm thanh sắc
nhọn vỡ ra, xoáy buốt nỗi nhọc nhằn, đè nặng trái tim Bà…
Bà ngồi trên chiếc xích đu trước hiên nhà trong ánh sáng nhạt từ phòng
khách hắt ra, gió đưa hương những khóm hoa hồng phảng phất êm đềm,
lắng dịu của đêm. Dõi tầm mắt xa xăm qua cánh cổng rào thưa, Bà có thể
nhìn thấy con đường tấp nập người và xe qua lại. Mọi người vội vã. Trước
đây, Bà cũng vậy, ra khỏi nhà khi mặt trời chưa mọc, trở về đường phố đã
lên đèn. Thỉnh thoảng có ngày nghỉ, Bà tìm cơ hội để chào hỏi hàng xóm.
Trong Bà như có ai đó đốt lửa, một tháng ba mươi ngày, một năm mười hai
tháng, như chiếc kim đồng hồ không ngừng nghỉ.
Đâu là sức mạnh?
Gần đến cuối đời, nhìn lại những đoạn đường đã qua, mỗi một bước chân
đi in dấu tình thương và các con chính là động lực. Nhìn con lớn lên từng
ngày, được cắp sách đến trường, cấp một rồi cấp hai, cấp ba, vô đại học. Bà
không còn biết đói, biết lạnh, cũng quên mất cảm giác thèm ăn món gì, chỉ
suy nghĩ nấu món ngon con thích, ăn no đủ để lớn.
Thời gian như chớp mắt. Mới đó , con Bà đã khôn lớn. Có thể yên tâm mà
hưởng phước tuổi già, không còn lo nghĩ. Bà đã sử dụng thời gian trong
ngày của mình với nhiều công việc, không muốn đối diện với khoảng trống.
Vậy nhưng cũng có lúc nằm thừ ra không biết làm gì, lắng nghe cơ thể đau
chỗ này, nhức chỗ kia và trong đầu vang lên những câu hỏi:

  • Bà đã thật sự già rồi sao? Bà đã trở nên vô tích sự hồi nào thế? Sao lại
    bạc nhược như thế này?
    Cưới Vợ cho con trai, Bà đã một bước tròn tâm niệm. Có những lúc một
    mình trong căn nhà vắng vẻ, ngồi trước di ảnh người chồng quá cố, lặng đi
    với cảm giác trở về thật xa ngày Ông còn sống…
    Nắm tay đi hết đoạn đường đời/ Nào ngờ sóng vỗ bão tơi bời/ Thuyền
    nan một mảnh tay chèo ngược/ Thuận với vô thường đợi tới nơi.
    Bà đã đợi được ngày này… Ngày mà sự an yên cho Bà cảm giác cuộc đời
    đã lãng quên chính mình.
    Trời trở gió thổi tung những chiếc lá rụng rơi đầy hàng hiên, lao xao lùa
    về cuối góc thấp, nép vào đêm yên phận. Bà tựa đầu vào chiếc xích đu, khép
    hờ đôi mắt, lội ngược dòng trong thế giới tĩnh mịch, trộn lẫn những suy nghĩ
    mông lung, muốn tách ra, sắp xếp chúng lại ngày hiện tại. Bà muốn thêm
    nắng, thêm gió, thêm vận động để ngày sống thêm ý nghĩa… Đời là một
    chọn lựa, bước xuống hòa mình vào luân chuyển sự sống hay tự nhốt mình
    trong bốn bức tường với một mặc định già nua, hết thời gian còn lại? Trong
    Bà đã có quyết định…
    Có tiếng chuông làm Bà giật mình trở về thực tại, bước ra nhìn qua ô nhỏ
    thấy con về tới, vội mở rộng cửa. Chiếc xe hơi màu đen chạy thẳng vào nhà
    rồi tắt máy. Bà bước vào phòng khách, bật cái tivi cho vui tai. Cùng lúc con
    trai và con dâu bà lên tiếng:
  • Con chào mẹ.
    Mặt Bà tươi tỉnh hẳn lên, liền hỏi:
  • Các con có ăn thêm gì không?
    Tiếng con dâu trả lời:
  • Dạ không !
  • Vậy các con tắm rửa rồi nghỉ ngơi cho khỏe.
    Con trai quay qua nói với Vợ:
  • Em lên phòng tắm trước đi, anh chơi với mẹ chút.
    Nói rồi nó sà xuống bên cạnh, trong chiếc ghế sopha dài gối đầu lên chân
    Bà, dài giọng :
  • Mẹ… gãi đầu cho con…
    Bà cười khẽ:
  • Có vợ rồi còn nhõng nhẽo.
    Miệng nói thế nhưng Bà vẫn gãi đầu cho con trai như hồi còn nhỏ. Đầu
    nhiều tóc, đen mun, ngày xưa bị Bạn chọc quê cái đầu tóc rễ tre lúc nào cũng
    khét nắng, bây giờ đã hớt cao gọn gàng. Thời sinh viên nó vừa học vừa làm,
    gà-mên cơm Mẹ bới cho treo lủng lẳng bên chiếc xe đạp, tới bữa thường ăn
    chung với Bác bảo vệ trong khi các Bạn xuống căn tin… Ra trường ngày làm
    hai ca, nó cũng như Bà trở về nhà khi Mặt trời đã đi ngủ. Một ông chủ trẻ
    nghiêm túc với công việc, ba mươi ngoài mới dẫn cô dâu của mình về ra mắt
    Mẹ. Bà cưới vợ cho con, mong mau có cháu nội cho vui cửa nhà.
    Bình minh như một sự chờ đợi. Dậy từ rất sớm với thói quen thời vất vả,
    những người phụ nữ một nắng hai sương thời gian chừng không đủ. Họ làm
    việc, chợt bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng… Bên
    ngoài tờ mờ cảnh vật, chỉ chờ có thế, Bà mở cửa bước ra tạ ơn Thượng đế
    một ngày mới. Vươn vai với những động tác thể dục cho máu huyết lưu
    thông, Bà cảm giác thật sảng khoái. Quét sân, hốt lá rụng, bật vòi nước tưới
    những chậu cây cảnh và tia nắng đầu tiên bắt đầu xuyên qua những giọt
    nước lấp lánh phản chiếu đủ sắc màu. Ánh sáng đó ban phát sự sống, trải
    dài vô tận.
    Các con đi làm, trả lại cho Bà không gian lặng yên! Công việc làm thoáng
    đã xong. Mở tủ lạnh, Bà ngao ngán:
  • Đồ ăn hôm qua vẫn còn nguyên.
    Thừ người ra, nhớ ngày con còn nhỏ, chẳng có bữa nào là thịnh soạn, sao
    mà ngon lạ! Bà chỉ tính đủ phần con, còn mình ăn những gì còn lại để không
    phải phung phí. Vậy mà cái hũ gạo của Bà chẳng khi nào đầy. Bữa ăn là một
    ân huệ, không chỉ thức ăn mà được cùng ăn với người thân trong yêu thương
    gắn kết. Uống vội ly sữa, Bà thay bộ đồ tươm tất, với tay lấy cái túi xách, bỏ
    vào những thứ cần dùng, không quên mang theo chai nước lọc. Trong Bà
    nôn nao như thiếu nữ lần đầu đi hẹn hò… Hôm nay , Bà định bụng bước ra
    ngoài kia, nơi con đường dẫn lối không có đích đến, chỉ muốn đi lại những
    bước ngày xưa với một tâm thái khác…
    Sài Gòn với nhiều tuyến xe buýt, phương tiện giao thông giữa các quận,
    huyện. Từ nhà, Bà đi bộ một đoạn ngắn là có trạm. Bà đứng ở trạm chờ thật
    nhẹ nhàng như người đi rong chơi, không mang theo một đống hàng hóa
    như thuở nào trong buổi chợ sớm mai đầy áp lực… Vừa lúc có chiếc xe buýt
    ghé vô. Bước lên xe, theo thói quen Bà chọn hàng ghế thứ hai sau lưng tài
    xế. Đó là ghế ngồi gần cửa để xuống hàng cho lẹ. Yên vị chỗ ngồi, trả tiền vé,
    đảo mắt một vòng, Bà thầm nghĩ:
  • Xe giờ này không đông như xe sớm mai.
    Cảm giác thân quen, gần gũi khiến Bà cứ tủm tỉm cười.
    Chuyến xe ngày cũ của Bà thật vội, lên xe hấp tấp, kiểm lại hàng hóa.
    Nghề làm bếp trong đầu chỉ có thực đơn và nguyên liệu. Bên ngoài màn đêm
    với những ánh đèn lấp loáng. Tựa đầu lên thành ghế , Bà ngủ giấc mộng
    thường chập chờn tiếp nối, mặc cho xe ghé vô bao nhiêu trạm nhưng khi đến
    điểm dừng của mình mới bật dậy tỉnh táo, bước xuống xe với lủ khủ hàng
    hóa. Trời vừa chớp mắt ưu tư với ánh sáng nhạt, trách Bà sao sớm rộn ràng
    đánh thức. Bà đi cho kịp thời gian… khi sương đêm còn thấm lạnh vai áo,
    con trăng về muộn, dõi theo Bà qua mỗi mùa vơi, đầy nhọc nhằn… Trở về
    chiều ở trạm chờ xe buýt, có những hôm thành phố ngập trong mưa mùa,
    mắt môi tím tái co lại giữa lồng lộng ướt run, Bà như manh áo thô trở tứ bề
    giữa nắng mưa cuộc đời, vá víu yêu thương, hong khô muộn phiền. Khi
    chuyến xe chuyển bánh mọi địa chỉ lướt qua thật mơ hồ nhưng trong Bà đã
    có đích đến.
    Khẽ thở dài, mới đó đã hơn hai mươi năm. Trước đây quá vội với ngày
    sống, Bà không còn thời gian quan sát chuyển động chung quanh, không
    cảm nhận được sự huyền nhiệm từ cuộc sống…
    Xe đã vào trung tâm thành phố. Bà xuống xe tại một trạm không định
    trước, đứng lại định thần nhìn quanh, bước những bước thật chậm, như
    người ở dưới quê mới lên, hết nhìn bên này lại nhìn bên kia rồi ngửa cổ mút
    mắt tòa nhà cao tầng, dãy phố với nhiều cửa tiệm bày bán đủ mặt hàng sang
    trọng, người qua lại tấp nập. Bà được sống trong một thành phố văn minh,
    giàu có, tiến bộ mọi mặt, vậy mà trước đây không biết, hay nói đúng hơn
    những người mưu sinh vất vả, thời gian ngủ còn không có, lấy đâu thưởng
    lãm cuộc sống. Định bụng mỗi ngày sẽ đi một tuyến đường, muốn nhìn
    ngắm nơi cho Bà đủ cảm xúc để nhớ về hai tiếng gọi quê hương!
    Cho đến một ngày, Bà xuống trạm xe buýt, còn đang tần ngần dõi tầm
    mắt chung quanh. Phía bên kia đường có một quán cơm từ thiện với cái tên
    “NIỀM VUI” gợi sự tò mò… Chưa vội bước qua, Bà ghé vô xe bán nước dạo
    bên đường ngồi xuống, vừa uống từng ngụm trái dừa tươi, mát lạnh, vừa
    làm quen hỏi thăm cô chủ. Được biết quán chỉ phục vụ hai ngày giữa tuần.
    Tiếng cô hàng nước cất lên :
  • Sắp tới giờ cơm trưa rồi, lát Bà sẽ thấy người ta đến đông lắm.
    Bà ngồi tám chuyện được một lúc. Quán bên đường bắt đầu có khách
    đông dần, đa số là dân lao động, không biết họ đến từ đâu? Bà hiểu được
    cảm giác này… Có phần cơm từ thiện, tiết kiệm được chút tiền. Giữa cái
    nắng ban trưa, Bà nghe nao lòng như đứng trước một chiều thu hiu hắt khiến
    nước mắt chảy tuôn.
    Mang vội mắt kiếng giấu đi cảm xúc của mình, Bà thầm nghĩ:
  • Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nếu không may gặp bất hạnh, xin có đủ
    nghị lực để vượt qua và vươn tới.
    Bà đứng lên, không quên cám ơn Cô chủ, mạnh dạn bước qua bên kia
    đường. Chỉ còn vài người khách sau cùng, quán cơm từ thiện cũng khá rộng.
    Người đứng gần cửa lên tiếng :
  • Bà dùng cơm?
    Một người khác:
  • Bà vô trong ngồi cho mát.
    Ngồi xuống một chiếc bàn gần quầy, Bà khẽ nói :
  • Cho tôi ít cơm thôi.
    Vừa ăn, Bà vừa quan sát:
  • Có tất cả bốn người, họ đều là những người lớn tuổi, căn bếp không
    được sắp xếp theo đúng quy trình một chiều nên bừa bộn vướng víu. Bà tự
    cười thầm mình với cái nhìn nghề nghiệp.
    Ăn xong , Bà đánh bạo hỏi thăm người đàn ông đứng ở quầy, chắc cũng
    trạc tuổi Bà, nãy giờ nghe người khác gọi là ông Tư.
  • Ở đây , Ông có cần người giúp không?
    Bỏ cặp mắt kiếng, Ông ngước nhìn Bà hồi lâu rồi trả lời:
  • Ở đây chúng tôi không thuê người làm như Bà thấy đó, bọn già chúng
    tôi tự làm tất cả.
  • Không! Không, Ông đừng hiểu lầm! Tôi chỉ muốn giúp! Tôi có thời gian
    và biết nấu….
    Những người khác nghe Bà và ông Tư nói chuyện như hiểu ra. Ai cũng
    bỏ việc đến bên quày góp vô mỗi người một câu. Họ là những người Bạn đã
    về hưu, muốn sử dụng thời gian còn lại thật hữu ích. Họ không muốn tự kỷ
    ám thị về hai tiếng tuổi già. Không muốn làm gánh nặng tâm lý cho con cái.
    Nuôi con lớn đó là bổn phận Cha Mẹ, hãy cho con sự tự do sống cuộc đời
    của nó. Chỉ sau thời gian ngắn ngủi nói chuyện, làm quen giới thiệu về nhau,
    Bà với họ như không còn khoảng cách. Sự đồng cảm trong suy nghĩ khiến
    mọi người xích lại gần nhau. Vẫn là tiếng ông Tư :
  • Được Bà chị giúp cho một tay còn gì bằng, nhưng phải cho con biết nhé!
  • Ông yên tâm, tôi biết sắp xếp.
    Cảm giác trên con đường trở về khác hẳn lúc đi. Bà tìm cảm hứng cho
    ngày sống để xua tan sự nhàm chán! Được làm việc, được phục vụ người
    khác đó là niềm hạnh phúc. Bên trong Bà như có ai đang nhóm lửa… Bà
    không muốn lặng đi trong cái tĩnh mịch thời gian chờ đợi sự chết, chỉ là một
    chuyến đi về, cứ thuận theo tự nhiên mà đến.
    Xuống trạm xe buýt, Bà bước chân sáo, lòng khấp khởi vui như cô gái
    đang xuân. Vô nhà rót ly nước lọc uống một hơi rồi đi thẳng xuống bếp đến
    bên cái hũ gạo, tâm hồn Bà đang chuyện trò cùng hũ gạo. Bà truyền cảm
    hứng và niềm vui cho nó! Từ nay nó không phải bị bỏ quên trong xó bếp với
    số gạo cũ xì, nhạt thếch, cứ phải ôm ấp giữ lấy do những buổi cơm vắng
    bóng con. Ngày mai, Bà sẽ đem hết số gạo này đi để hũ gạo lại được đong
    đầy tươi mới.
    Bà đến quán cơm Từ thiện cũng vừa kịp lúc mọi người. Ai nấy rất vui khi
    thấy Bà trở lại.
    Bà Tám lên tiếng :
  • Chị mang gì nhiều vậy?
    Bà cười vui trả lời :
  • Có gì đâu, chỉ một ít gạo và rau.
    Vào căn bếp nhìn quanh một lượt, Bà muốn một vài thay đổi cho tiện
    công việc. Chỉ một loáng là xong .Tổ chức bếp là nghề của Bà. Nhân lực hôm
    nay có thêm Bà là năm. Được xào, được nấu, nghe lại âm thanh lửa bừng lên
    từ cái bếp khè, mùi thịt cháy xém gia vị khi chiên thật hấp dẫn. Bà như linh
    hoạt hẳn lên không còn cái vẻ trầm mặc thường ngày. Ai nấy đổ mồ hôi sau
    một hồi làm việc nhưng ánh mắt họ lấp lánh niềm vui, nụ cười rạng rỡ. Ai
    cũng có cái để Cho đi và đó là Hạnh phúc. Đến giờ ăn, từng tốp người cứ
    thế vào quán. Khách như quen thuộc với chỗ ngồi thường ngày. Năm người
    phục vụ luôn tay trong thoáng chốc đã hết sạch thực phẩm. Hết giờ, họ ngồi
    lại bên mâm cơm với những gì còn lại. Những con người tìm vui trong việc
    phục vụ, ngày qua ngày, sẻ chia từng mẫu chuyện đời có lúc tưởng chừng
    không qua được.
    Hôm nay ông Tư nhắc chừng :
  • Bà Hai! Chị lưu địa chỉ và số điện thoại vào sổ nhé!
    Khẽ cười , Bà lên tiếng :
  • Yên tâm, tôi còn mời mọi người đến nhà tôi một chuyến cho biết.
    Nói rồi, Bà vỗ vỗ vào cái thùng nhựa cứng đựng gạo kế bên: – Cái hũ gạo
    này trách nhiệm không của riêng ai! Tin đi, nó không những đầy gạo mà còn
    nở hoa nữa…
    Ông Tư tròn xoe mắt với câu nói bỏ lửng của Bà.
    Chào mọi người ra về, đứng ở trạm chờ, Bà nghe nhói ngực trái. Đưa tay
    lên xoa ngực vẫn là thói quen mỗi khi Bà thấm mệt với hơi thở thật nặng
    nhọc. Mới đó đã tròn một năm kể từ lần đầu tiên Bà bước chân vào quán
    cơm từ thiện “Niềm Vui”. Tình cảm mọi người dành cho nhau rất tốt. Ở đó
    , Bà tìm thấy sự ấm áp như ngôi nhà thứ hai của mình. Xuống xe, Bà bước đi
    trong trạng thái không trọng lực. Trái tim Bà mơ hồ thổn thức. Bệnh cũ rồi,
    Bà biết có ngày này, cứ thế mà đến sao! Gọi điện cho con “Con trai…”. Tiếng
    Bà đứt quãng rồi tắt lịm. Không biết Bà có kịp nghe ở đầu bên kia tiếng con
    trai thảng thốt gọi Mẹ!
    Ông Tư và những người bạn ở quán cơm Từ thiện đứng lặng trước di ảnh
    người đàn bà. Những bàn tay run run với nén nhang không đành lòng cho
    sự tiễn biệt. Khuôn mặt người trong khung ảnh đang nhìn họ như mỉm cười.
    Con trai bà Hai đưa cho ông Tư cuốn sổ tiết kiệm người Mẹ để lại cho quán
    cơm Từ thiện.
    Đâu đó trong đầu ông lại vang lên:
  • Cái hũ gạo này trách nhiệm không của riêng ai…
    Những giọt nước mắt không cầm được chảy dài.
    Cả một đời nước mắt cứ chảy ngược vào trong như đến giới hạn. Họ
    muốn được khóc thật to như đám trẻ con phật ý.
    Hẹn gặp lại…
    Những đóa yêu thương đã nở hoa giữa hũ gạo cuộc đời…!
    Lê Yên

CỬA KHÔNG


Lão cố gắng với tay về phía ngọn đèn nhưng hoàn toàn bất lực. Sức lực nội tại như
tan biến, hòa vào hư không, bỏ trơ lại tấm thân tàn tạ vì mấy tháng trời rong ruổi cùng
chiếc xe đạp. Lão nhớ rất rõ tai nạn đã xảy ra như thế nào, mặc dù không chắc lắm hồi ức
của kẻ vừa thoát khỏi tay thần chết sẽ hoàn toàn chính xác. Sự chính xác mà theo Lão
nghĩ, như phạm trù ước lượng hơn là một định lượng rõ ràng. Như thế, nhưng con người
vẫn thích nói “chính xác” và không hiểu rằng muốn đạt được nó cần phải nhiều sự chính
xác hơn nữa để biến mớ hỗn độn mơ hồ trở thành một thứ chân thực, hiện hữu, có thể
cân đo đong đếm được…
Lão cố đưa cái chân lên trước mặt và muốn biết “chính xác” nó còn lành lặn, để có thể
cùng Lão lao vào cơn bão điên khùng nhất mà mình từng đối mặt. Cơn bão của lòng tự
trọng bị tổn thương, đau đớn, ngoắc ngoải, rên xiết và giận dữ. Sự giận dữ mà Lão chỉ có
thể tóm tắt với định nghĩa “tột cùng” của sự tột cùng không thể nào khác hơn. Có ai nghĩ
rằng, một Lão già ngót sáu mươi tuổi lại trải qua những điều Lão đang chịu đựng.
Cái đau đớn bên ngoài nào có sá gì so với sự thiêu đốt bằng lửa địa ngục, Lão từng
nghe các Thiền sư luận giải. Tám đứa con của Lão sẽ nghĩ gì, nếu biết Lão nằm đây, không
người thân thích, với những vết thương… cũng chỉ là vết thương, có thể lành trong nay
mai hoặc không bao giờ hồi phục… Bọn chúng ở xa lắm, đều bên nước người và không
thể nào hiểu được điều gì đang âm ỉ trong trái tim người Cha bất hạnh.
Quá khứ nào chẳng đẹp! Nếu không như vậy, tại sao con người phải mất thời gian để
nhớ đến. Theo cách nghĩ của Lão, cái đẹp trong quá khứ phải gắn mình cùng hiện thực.
Hiện tại đau khổ mà quá khứ vàng son chỉ làm cho con người dễ dàng rơi lệ. Còn nếu
như hiện tại vui thì quá khứ chẳng nghĩa lý gì. Chính vì điều này mà Lão rơi lệ, nước mắt
lai láng…
Cô gái đôi mươi ngày nào đã trở thành người Vợ hiền bên cạnh Ông chủ tàu cá, rồi
tiếp theo là những đứa con… Chúng lớn lên cùng biển và cũng chính biển đem chúng đi
xa…
Tám đứa con đều thành đạt tại nước ngoài. Tiền bạc không thiếu. Cơ ngơi khang
trang. Ấy vậy mà Lão bị vợ “cắm sừng”. Chuyện không thể tin và không thể nào “chính
xác” hơn chuyện ấy!
Điều này khiến Lão tổn thương, đau khổ lẫn thẹn thùng, bởi chính người đàn bà đã
cùng chung sống suốt mấy mươi năm. Làm sao có thể giải thích minh bạch và tận tường
một hệ quả đau khổ, bắt đầu bằng những tốt đẹp hằng đêm Lão ấp ủ, yêu thương, lẫn cả
sự trân trọng… Và mọi chuyện đã thay đổi đến thảng thốt, choáng ngợp mà ngay cả
những người thân nhất cũng sửng sốt trước hung tin:

  • Lão đã bị bỏ rơi!
    Bỏ rơi một cách không thương tiếc và lạnh lùng ở cái tuổi gần đất xa trời. Điều này
    thật khó chấp nhận…
    Nếu như ngày còn trẻ, cuộc sống chung đụng đưa đến bất hòa, ly hôn, hoặc ly thân
    là chuyện bình thường. Nhưng… Lão bị vợ cho “rơi” vào lứa tuổi ngót sáu mươi. Một
    việc không thể tin nhưng chẳng cách nào “khước từ” khi chuyện Vợ Chồng luôn bắt đầu
    từ hai phía. Có thể, Lão muốn níu lại chút hy vọng nào đó, nhưng mọi cái trở nên bỉ ổi
    và đáng khinh khi nghĩ đến hành động van xin hay cầu khẩn trước người Vợ trẻ nhỏ hơn
    mình mười mấy tuổi…
    Cuộc sống vốn đẹp khi mọi cái thật hoàn hảo và sẽ trở thành địa ngục khi hiện thực
    trở thành ảo ảnh. Một thứ ảo ảnh không thể sờ nắm, chỉ dùng mắt nhìn nó xuất hiện rồi
    tan biến tận trời xa. Lão nghĩ mình đang bị quả báo của Tiền kiếp nên mới gặp cảnh ngộ
    này. Bi thương, uất hận, khinh bỉ, xuất hiện trong lão như cơn bão dữ…
    Lão bị cơn bão ấy lôi đi xa mà không có hành động nào cưỡng lại. Tài sản, cơ ngơi
    không còn quan trọng! Đối với Lão chỉ là sự trốn chạy, thoát ly, tránh xa cõi Trần tục mà
    tự thân luôn là nỗi sầu đau giam hãm con người. Lão nguyện lên núi, đến Chùa xin xuống
    tóc quy y cửa Phật. Và trong cơn phẫn nộ, nếu bị chối từ Lão sẽ tìm đến cái chết như sự
    giải thoát thiết yếu không phải cãi bàn.
    Mọi cái lại cay đắng hơn khi cõi Tục vẫn là cõi tục. Tự thân những ngôi Chùa đã bị
    loài người biến thành nơi mưu sinh không tốn chút mồ hôi. Mớ tóc trên đầu Lão vẫn còn
    đó, bởi lẽ nó không thể rơi xuống cho một ước nguyện đơn giản nhưng lại không đơn
    giản chút nào. Đâu phải ai, cứ muốn là được, quỳ xuống chân Phật thí phát rồi bỗng chốc
    trở thành Hòa thượng, trút bỏ mọi đau khổ của nhân gian. Đi Tu cũng phải có giá của nó,
    nếu không khắp Thiên hạ chắc dẫy đầy Hòa thượng… Điều này khiến Lão đau khổ cực
    cùng, chao đảo như cánh chim giữa gió ngàn mất hướng…
    Sườn núi phía Tây không có chiếc xe đạp, phương tiện duy nhất trong cơn phẫn uất
    Lão đã mang đi. Khi con người sầu khổ, bế tắc lại muốn hành hạ thân xác đến kỳ cùng
    và Lão đã dùng nó vượt qua mấy trăm cây số để đến được nơi này. Một địa điểm đã được
    lựa chọn, một kết cục đã phơi bày. Thế mà quyết định sau cùng là sườn núi phía Tây,
    hướng về quê Phật, Lão tự quyết số phận chính mình…
    Ai có thể thấu hiểu tâm trạng của Lão trong sự nhếch nhác, rã rời bởi những đêm
    không ngủ. Hành trình như kẻ mộng du. Bước đi trong vô thức chẳng rõ ràng đích đến.
    Râu tóc lổm ngổm vì trí nhớ bỏ quên. Và từ trên thân thể cáu bẩn bốc lên cái mùi khăm
    khẳm, ràn rụa mồ hôi bởi những tháng ngày rong ruổi mê muội. Nhìn những kẻ thoáng
    qua trên đường dâng hương lễ Phật, trong bóng tối mù đen phủ đầy tri giác bỗng bừng
    lên một hy vọng. Ngọn lửa bừng lên từ tâm khảm hướng bước chân ngoắc ngoải, thương
    đau, lần tìm về thánh địa giải thoát. Chỉ cửa Phật mới chứa chấp con người cùng khốn.
    Chỉ Phật môn thanh tịnh mới giúp Lão nguôi ngoai nỗi khổ đang thống trị mình…
    Thế nhưng Lão bị từ khước! Khước từ bởi nhiều lý do mà trong phẫn nộ Lão vẫn thấy
    được… Lão trở thành kẻ vô gia cư đang tìm nơi lánh ẩn hơn là một kẻ chán ngắt cảnh
    Phàm trần muốn trốn chạy Thế nhân. Sự từ chối lạnh lùng thay cho cách giải thích thỏa
    đáng… Và Lão tìm đến sườn núi phía Tây như cứu cánh cho sự giải thoát yên bình…
    Lão chưa thể chết vì cái trượt chân trong bóng tối. Ý định chỉ còn một nửa khi Lão lăn
    mình xuống sườn dốc đầy cỏ dại. Mở mắt ra, Lão thấy mình nằm đấy, trơ trọi, hiu hắt và
    tự hỏi tại sao mình vẫn sống… Sống trong nỗi chết, sống trong ký ức kinh hoàng về một
    gia đình bỗng chốc nát tan, vỡ vụn từng mảnh, vô vọng cứu vớt. Ấy vậy mà Lão vẫn
    sống… Sống thừa và ô nhục…
    Cái chết đã từ chối thân xác mỏi mòn, khô héo. Cái chết thật bất công khi chẳng ra tay
    cứu rỗi một linh hồn nhỏ bé đang tự nguyện dâng mình… Lão nằm đấy với tri giác hỗn
    loạn, bất định, với hơi thở đứt đoạn từng nhịp, nhưng… vẫn cứ sống…
    Hấp lực Trái đất đã kéo Lão lăn xuống một căn chòi bỏ không thay cho địa ngục. Và
    khi tỉnh lại, Lão nguyền rủa sự may mắn của chính mình. Bây giờ, Lão muốn tiếp tục
    được rơi xuống nhưng thân xác lại đông cứng không thể cưỡng cầu. Số phận đã có tiếng
    nói quyết định về một con người đang cố tìm chết. Số phận đang mỉm cười trong khi Lão
    là kẻ khóc than…!
    Cái chết là một phần của sự sống. Cái chết đưa linh hồn vào vòng sanh tử thuyết luân
    hồi. Lão đã nghe và đọc nhiều điều đó trong kinh sách, nhưng vẫn không hiểu được kết
    quả chính mình. Bố thí tạo Phước, Lão đã làm không ít. Đi Chùa lễ Phật là công việc thanh
    thản mỗi tháng Lão đều làm… Ấy vậy mà mọi thứ đều quay lưng. Quay lưng trong hoàn
    cảnh tuyệt vọng nhất của một con người lạc lõng không nơi bám tựa.
    Sự lạnh lùng đó có phải do tiền kiếp Lão đã gieo nhân – một suy nghĩ lâu nay Lão vẫn
    nghi ngờ nhưng lại trở thành hiện thực. Thế thì công đức bao lâu nay đi về đâu trong
    khung cảnh thương hải tang điền – biển cả biến thành nương dâu? Lão muốn la to trong
    nỗi thống khổ nghẹn lời. Muốn gào thét vang vọng thấu trời cao. Nhưng… trong thâm
    Tâm hiểu rằng đó là sự vô ích dại khờ. Không ai có thể cứu Lão! Không ai đổi hướng để
    “quay đầu” – đáo đầu thị ngạn. Mọi sự đều quay lưng… Cái chết như sự cứu rỗi cũng
    quay lưng. Lão buồn trong sự sống và lẫn cả cái chết…
    Mưa ư ? Ồ, mưa từ mắt Lão! Vị mưa mằn mặn chảy trên đôi môi nứt nẻ, bỏng rát…
    Mưa được định nghĩa là nước trên cao rơi xuống. Mưa tự nhiên và mưa nhân tạo. Lão
    cười vì mình có tài làm mưa. Mắt Lão làm ra mưa! Gọi là mưa tự nhiên hay nhân tạo
    nhỉ?…
    Trăng non trên sườn núi phía Tây xuyên qua mái tranh lỗ chỗ. Ánh đèn lay lắc vì
    những ngọn gió va đập vào vách núi… Tất cả điều này báo hiệu sự sống khi nhận thức
    quay về. Thế mà Lão đâu có vui… Ý Lão ra sao…!?
  • Chú tỉnh rồi à?
    Trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn, Lão cố giương đôi mắt mỏi mệt để nhìn.
  • Chú là ai?
  • Tôi là người dọn dẹp.
    Lão lấy làm lạ lắm. Trên đời có nghề dọn dẹp ư?
  • Chú dọn dẹp cái gì?
  • Bất cứ thứ gì mà con người muốn. Tôi làm họ trả công. Có khi làm không công nữa
    ấy!
    Lão muốn ngồi dậy lắm, nhưng không sao thực hiện được.
  • Có việc ấy sao?
  • Có đấy! Những việc không phí sức biết tính làm sao?
    Hoặc giả khi gặp kẻ nghèo khó thì giúp giùm. Như thế là không công.
    Lão muốn cười lắm nhưng đầu lại choáng. Lời nói người này khiến Lão nhớ đến một
    việc.
  • Chú muốn tạo Phước bằng cách Bố thí công sức ư?
    Vẫn tiếng nói nhẹ nhàng ấm áp vang lên.
  • Bố thí không phải là tạo Phước. Bố thí chỉ có ý nghĩa như hành vi san sẻ giữa con
    người với nhau. Việc này lâu ngày sẽ giúp ta xem thường ngoại vật mà xuất Tâm từ bi.
    Dù sao Lão vẫn cố cười trước lời nói này.
  • Các nhà Sư vẫn nói “Bố thí là tạo Phúc” kia mà?
  • Đó là một nhầm lẫn có khối người tin theo. Chú cứ nghĩ mà xem, nếu Bố thí là tạo
    Phúc thì bao trùm trong Thiên hạ ai nhiều tiền bằng Vua chúa, Quan lại… Những Quan
    chức, kẻ giàu sang, Phúc sẽ to như Thái sơn. Còn người nghèo, không tiền Bố thí lại vô
    Phúc ư?
    Đến đây thì Lão thở dài. Lão vẫn thường Bố thí kia mà! Nhưng… kết quả…
  • Vậy làm sao để có Phúc?
    Phúc đến do Duyên.
    Họa đến cũng Tùy duyên.
  • Thế “Duyên” từ đâu mà có?
  • Duyên không hình hài nhưng Phúc họa lại có. Vậy, nhìn Phúc họa thì được “Duyên”.
    Muốn thì thấy, không muốn lại trở về Không.
    Trong lòng Lão cực kỳ kinh ngạc.
  • Chú là… nhà Sư…?
    Tiếng cười thoảng trong gió.
  • Tôi là người dọn dẹp. Chú quên rồi à?
  • Cách nói chuyện này của nhà Sư kia mà?
  • Ngôn ngữ là của chung. Chẳng lẽ tôi không được nói?
    Lão bắt đầu tôn trọng người này.
  • Ai thường thuê Chú dọn dẹp?
  • Nhà cửa bề bộn không có đường đi thì thuê tôi. Cây cối rậm rạp cản trở tầm nhìn thì
    thuê tôi.
    Tâm trạng ngổn ngang thì…
  • Thì… sao…?
  • Thì dọn dẹp.
  • Chú giúp được sao?
  • Cái đó thì tôi không giúp được. Ngay cả hiền giả Thích Ca cũng không giúp được.
    Lão bắt đầu giận dữ.
    Người ta thường nói:
  • Phật độ Chúng sinh”kia mà? Thật là vô lý…
    Vẫn giọng nói bình thản ấy vang lên.
  • Nếu nói “Phật độ Chúng sinh” cũng chưa gọi là đúng.
    Phải nói rằng “Chúng sinh độ Phật” để được bình đẳng hơn. Hiền triết Thích Ca đã
    nói rằng:
  • Ta chỉ là người phát hiện ra Chân lý chứ không phải là kẻ Sáng tạo ra Chân lý. Ta có
    thể chỉ ra con đường giải thoát nhưng không thể nào đi thay cho các người được…
    Như vậy khi ta coi đây là một tiền đề thì rõ ràng Phật không thể nào độ được chúng
    sinh, mà chúng sinh lại độ được Phật ấy.
    Khi còn trẻ Thích Ca sống trong chúng sinh và thấy được kiếp người khốn khổ mới
    quyết tâm Tầm đạo “giải thoát”, cuối cùng đắc nguyện. Vậy, nếu không có Chúng sinh
    thì Ngài làm việc ấy để mà chi? Hiện tại các bậc chân Tu tại Chùa chiền, nếu ngày nào đó
    đắc ngộ chân lý, cũng đã được Chúng sinh độ trì chén cơm manh áo. Như vậy chúng
    sinh đã độ được Phật thì phải tự độ cho chính mình, bởi hiền giả Thích Ca nói, không thể
    nào đi thay cho ta được…
  • Vậy người ta đi Tu, lạy Phật để làm gì?
  • Tất cả chỉ là phương tiện. Ngay cả thân xác ta cũng là phương tiện để tìm hiểu về
    “Chân lý Giải thoát”. Sở dĩ hiền giả Thích Ca không lập văn tự, vì sợ rằng các Học trò sẽ
    cho lời nói của mình là Chân lý, thay vì là Phương tiện nên mới vậy! Chú có thấy vầng
    trăng kia không?
    Đó chính là “Chân lý Giải thoát” mà hiền giả Thích Ca đã từng nói. Thế nhưng con
    người cứ cho ngón tay của Ngài là Chân lý chứ không chịu nhìn về ánh trăng.
    Ngón tay chỉ là Phương tiện. Ngũ giới cũng là Phương tiện. Tụng kinh niệm Phật
    cũng là Phương tiện.
    Đã là Phương tiện thì có nhiều cách thay thế. Giống như muốn qua sông thì phải dùng
    đò, không đò thì thay thế bằng bè, hoặc giả bơi qua vậy.
  • Vậy làm sao để Giải thoát nếu không vào Chùa tu tập?
  • Nhà Chùa cũng là Phương tiện. Nếu không đến Chùa,ta có thể truy tầm Chân lý qua
    con đường nhận thức. Mọi khổ đau trong thiên hạ vốn xuất phát từ Tâm. Ta chấp trước,
    ta tham dục, ta vọng tưởng, ta tham ái, đó như mảnh đất mầu mỡ cho Tam độc trỗi dậy
    khơi gợi khổ đau. Vô thường là sự thay đổi. Hai người đi chung lâu ngày tất bị chi phối
    bởi quy luật thành hoại, hợp ly, có sự chết và sống. Nếu cả hai thay đổi theo hướng giống
    nhau là hợp, còn khác nhau lại ly. Ly lại phát triển theo hướng mới rồi hợp ở một nơi
    khác. Giống như ngọn lửa, tắt nơi này lại cháy tại nơi kia…
  • Hiện tại tôi đau khổ cùng cực, phải làm sao để giải tỏa?
  • Đau khổ là hạt giống. Tâm tư là mảnh đất gieo trồng. Giữ cho Tâm tĩnh lặng như hư
    không, khổ đau bám vào đâu.
    Trời đêm lạnh lắm, Lão trở mình nằm suy nghĩ. Nếu Tâm trống rỗng thì thành người
    chết mất rồi. Người chết khổ hết. Nhưng lão muốn chết cũng đâu có được!
  • Làm sao để có Tâm không?
  • Mây bay nước chảy, con người cho rằng bình thường. Mặt trời lặn, mọc chẳng ai
    quan tâm. Con người chỉ quan tâm những điều liên hệ đến thân mà thôi.
    Vậy quên thân thì được “Tâm không”.
  • Trời ạ! Làm sao có chuyện đó?
  • Có đấy thôi. Chú hành hạ thân xác và ra tận sườn núi phía Tây, nơi nguy hiểm để
    làm gì? Chú không màng sự sống, sao để tạp niệm nhiễu phiền. Mọi cái là “không” thì
    muôn việc bình thản. Tạp niệm, vọng tưởng tiêu tan, gọi là đắc ngộ Niết Bàn vậy.
  • Thế thì Niết Bàn có hay không? Phật có hay không?
  • Có và không chính là vọng tưởng. Bặt hết mọi vọng tưởng mọi cái đều là “Không”.
    Người đời thường nói:
  • Khi Mê thì ở bờ bên này. Khi Ngộ thì ở bờ bên kia. Như thế là Chấp trước. Lúc ngộ
    rồi là “lìa cả đôi bờ”.
    Như vậy cũng là “Không”.
    Ánh sáng ngọn đèn nhòe đi trước mắt Lão. Hình ảnh người nói không thể phân định
    rõ ràng.
  • Chú tên gì vậy?
  • Tôi không có tên.
  • Lời nói của Chú, tôi thấy lạ lắm!
  • Không gì là lạ. Tự thân chân lý đã sẵn có, chỉ tại con người chưa gặp Duyên đối diện
    với chính mình.
    Lão thấy đôi mắt mình trĩu nặng. Lời nói người kia lơ mơ trong tâm thức lẫn lộn tỉnh
    mê. Lão muốn tranh luận tiếp nhưng sức lực đã đến hồi cạn kiệt. Chỉ giấc ngủ mới khiến
    con người tỉnh táo và khỏe mạnh hơn sau những lao lực miệt mài. Thế là Lão thiếp đi,
    êm ái như đứa trẻ thỏa mãn cơn khát sữa trong đôi tay dịu dàng của mẹ hiền. Gió núi cất
    điệu ru hời. Trời làm chăn màn. Đất thay chiếu manh. Hạnh phúc ngắn ngủi chợt đến
    như cơn mưa xóa tan oi bức của hạ mùa nóng bỏng…
    Tiếng chim hót lảnh lót trong nắng mai khiến Lão choàng tỉnh. Lão nằm im, hồi tưởng
    tất cả sự việc đã xảy ra. Biết đâu đây là một Thế giới khác chào đón Lão từ cái trượt chân
    trong đêm tối. Và linh hồn Lão đang lang thang đâu đó trong địa ngục thâm u tại cửu
    tầng. Lão dụi mắt để trông mọi vật rõ ràng hơn với những hồi ức liên tục hiện về. Căn
    chòi lá với những cơn gió núi. Tiếng nói ấm áp của người lạ trong ánh sáng nhập nhoạng
    bởi ánh đèn… Tất cả những việc ấy thoáng qua như cơn mơ được kết dính tự thuở nào.
    Lời Kinh, tiếng Kệ, những đoạn minh triết từ các Luận sư lưu lại trên các trước tác của
    mình. Tất cả lung linh đến huyền ảo trong mắt Lão…
    Chậm rãi và khoan thai, Lão đứng dậy trên đôi chân ngập đầy vết xước. Cái đau đã
    bị chôn vùi và chết lặng trong thân xác lãng quên. Bỗng chốc mọi cái vụt tan biến, mất
    tăm như hòn đá được ném vào biển cả… Tiếng nói trong đêm tối. Ánh đèn. Lời kinh.
    Tiếng kệ. Chúng đang tan ra, hòa vào không gian và mất dần trong mắt Lão…
    Sườn núi phía Tây không có ánh Mặt trời. Mặt trời sau lưng, để lại bóng chiếu hướng
    về Tây, như ngón tay của hiền giả Thích Ca nhắn nhủ cùng nhân loại. Lão tiến dần xuống
    núi trong bóng râm hòa dịu, không còn bận tâm đến con người kỳ lạ đã chuyện trò cùng
    mình trong đêm tối khổ đau. Mọi cái đều không thật! Trong lòng Lão chỉ còn một niềm
    Tin không gì lay chuyển. Theo hướng bóng chiếu Mặt trời, cuối cùng Lão sẽ bước vào
    vùng sáng rực rỡ của ngày mới.
    Không môn đang mở. Lúc ấy, mọi sự đều biến mất. Và xác thân lẫn tinh thần này đều
    hòa vào vĩnh viễn Cửa Không…

Lời bạt
Câu chuyện được hư cấu trên một phần của sự thật, nhân chuyến hành hương về núi
Bà Đen, Tây Ninh cách đây hơn hai mươi năm. Người đàn ông trong truyện là có thật,
với số phận tương tự mà tôi cố gắng lột tả tâm trạng qua khả năng thô thiển của bản thân.
Tinh thần câu chuyện đã mượn triết học Phật giáo làm nền tảng, với tư tưởng sâu sắc
của hiền triết Thích Ca, người sáng lập ra Phật giáo, của sư tổ Đạt Ma và lục tổ Huệ Năng,
cùng các trước tác của nhiều học giả được thể hiện qua trí nhớ. Nếu trong tác phẩm có
đoạn nào trùng lặp hay giống ý, chẳng qua là sự thống nhất về cách nhìn nhận thông qua
quan điểm cá nhân. Suy nghĩ của nhân vật tự thân đã có ngoài đời, chứ không nhằm vào
cá nhân hay bất cứ tổ chức nào hiện hữu.
Và tôi viết tác phẩm này nhân cảm hứng từ bài viết của một người bạn biết nhau qua
văn hóa mạng. Người bạn ấy, tôi chưa từng hỏi tên, sinh nghiệp ra sao, gia cảnh như thế
nào… Chỉ biết rằng đó là người bạn “Tinh thần” được tôi trân trọng viết tặng câu chuyện
này, với niềm tin mọi sự đều hòa vào… “Cửa Không”…
Kính bút
MAC DUNG

LÒNG TỐT NHƯ MỘT HẠT MẦM NẾU ĐƯỢC GIEO TRỒNG SẼ TỰ KHẮC NỞ HOA


Một bài viết được đăng tải trên Facebook đã nhận được sự chú ý của độc
giả trong thời gian dài. Đó là câu chuyện kể về lòng tốt giữa những con người
hoàn toàn xa lạ, những sự tử tế im lặng không cần nói thành lời.
Vào buổi xế chiều một ngày mùa đông, như thường lệ, tôi xếp hàng vào
dòng người chờ xe buýt trở về nhà. Khi ấy có khoảng năm, sáu người cũng
đang xếp hàng lặng lẽ và yên tĩnh cùng tôi. Từ xa, một người đàn ông dắt
theo một chú chó chậm chạp tiến đến.
Khi họ đến gần, tôi nhận ra đó là một chàng trai khôi ngô tuấn tú. Anh
đang nắm chặt sợi dây kết nối với chú chó chỉ đường chuyên nghiệp của
Đức dành cho người mù. Sau đó, anh từ từ đi về hướng trạm xe buýt, cùng
xếp hàng với dòng người đang chờ đợi xe.
Không một ai bắt chuyện với chàng trai mù, còn tôi cũng đang do dự:

  • Không biết có nên tiến về phía trước dắt anh ta hay không?
    Ngay lúc đó, người đàn ông trung niên đứng ở hàng đầu tiên đã rất
    nhanh gập cuốn sách đang đọc dở trên tay. Ông ấy bước về phía sau chàng
    trai mù xếp hàng. Lập tức, những người xếp hàng còn lại cũng lần lượt lặng
    lẽ đứng về phía sau của chàng trai.
    Anh từ từ đi về hướng trạm xe buýt, cùng xếp hàng với dòng người đang
    chờ đợi xe
    Đứng cạnh tôi là một cô gái có mái tóc ngắn màu đỏ liếc nhìn chú chó chỉ
    đường. Có lẽ cô sợ mùi thuốc lá ảnh hưởng đến thị giác của nó nên vội dập
    tắt điếu thuốc lá vừa mới châm xong. Lại có thêm một người nữa xếp hàng
    đợi xe, người này cũng lẳng lặng đứng phía sau người mù và chú chó ấy.
    Giữa những người xa lạ, họ không nói một lời nào nhưng lại rất hiểu ý nhau.
    Cứ như vậy, cho đến khi xe bus tới.
    Tôi nói:
  • Đợi một chút,….
    Người tài xế rời khỏi ghế lái chuẩn bị bước xuống để dắt chàng trai mù
    lên xe. Thế nhưng chàng trai đã lịch sự từ chối:
  • Cám ơn Ông, không cần đâu ạ !
    Chàng trai tiếp tục theo sự dẫn đường của chú chó, tự mình bước lên xe.
    Khi ấy là giờ cao điểm tan sở, xe đã chật kín người.
    Ngồi sau lưng tài xế là một cậu bé khoảng 5-6 tuổi, bên cạnh là Mẹ của
    cậu. Bà nhanh chóng bế bổng cậu bé ra khỏi chỗ ngồi để nhường ghế cho
    chàng trai kia. Mặc dù hành động của người Mẹ rất đột ngột nhưng cậu bé
    không hề có chút nào khó chịu hoặc không hài lòng mà vẫn im lặng. Nhìn
    thấy chỗ trống, chú chó chỉ đường liền nhanh chóng dẫn chàng trai mù ngồi
    vào ghế, sau đó lặng lẽ nằm bên cạnh chủ. Khi tất cả những sự việc này diễn
    ra, chàng trai mù không hề hay biết.
  • Xin hỏi anh muốn đến đâu?
  • Tôi muốn đến đường Moore.
  • Vâng, thưa bệ hạ !
    Câu trả lời hài hước của tài xế khiến mọi người trong xe đều bật cười vui
    vẻ. Chiếc xe chở đầy sự hân hoan vui vẻ của mọi người cứ thế tiếp tục tiến
    về phía trước..
    Khi ở trên xe, cho dù những lúc xe phanh gấp hay cua rẽ, chú chó vẫn
    luôn giữ tư thế rất tập trung và mắt hướng về phía trước. Mọi người đều rất
    tò mò quan sát nhưng không có ai có ý định đến vuốt ve hoặc dùng điện
    thoại để chụp hình nó.
    Bên cạnh tôi là cậu bé đã nhường vị trí cho chàng trai mù. Cậu lấy tay bẻ
    một nửa chiếc bánh định cho chú chó ăn. Thế nhưng Mẹ cậu bé đã nhanh
    chóng ngăn lại và nói nhỏ:
  • Chú chó đang làm công việc của nó, con đừng làm ảnh hưởng đến nó.
    Nghe thấy từ “Công việc,” cậu bé lập tức rút tay lại từ bỏ ý định cho chú
    chó ăn.
    Thành phố không quá lớn, rất nhanh đã đến trạm cần đến, chàng trai mù
    nhanh chóng chào tài xế, sau đó cùng chú chó chỉ đường xuống xe. Không
    khí trầm lặng bao trùm trong xe. Thế nhưng, đằng sau ấy là sự yêu thương,
    tôn trọng không nói lên lời.
    Lòng tốt là ngôn ngữ kỳ diệu mà người điếc có thể nghe và người mù có
    thể cảm nhận.
    Thiện Nam tổng hợp

TẤM MÀN THÁC NƯỚC


Nếu bạn có dịp đến Nhật và ghé qua thăm tu viện Eiheiji, trước khi vào
bạn sẽ thấy một chiếc cầu nhỏ tên là Hanshaku-kyo, có nghĩa là cây cầu Nửa
Thìa. Ngày xưa khi thiền sư Đạo Nguyên dùng muỗng múc nước từ dòng
sông này, ông chỉ lấy phân nửa mà thôi, phần còn lại ông trả cho dòng sông
mà không phải đổ đi. Vì vậy mà cây cầu này có tên là Hanshaku-kyo, “Nửa
Thìa.”
Thật khó mà hiểu lý do vì sao ngài Đạo Nguyên lại trả nửa phần nước
ông đã múc trở lại với dòng sông. Việc làm đó nằm ngoài sự hiểu biết của
chúng ta. Khi chúng ta cảm nhận được mình là một với dòng sông, tự nhiên
chúng ta sẽ hành động y như ngài Đạo Nguyên. Thực tánh của ta là như vậy.
Nhưng nếu thực tánh của ta bị những ý niệm như là tiết kiệm, hiệu quả xen
vào làm che mờ, thì hành động của ngài Đạo Nguyên hoàn toàn vô nghĩa.
Một Tấm Màn Nước
Tôi có lần đến thăm Công viên Quốc gia Yosemite, nơi đây tôi thấy nhiều
thác nước thật to. Thác cao nhất có đến 1340 bộ, từ trên cao nước đổ xuống
như một tấm màn buông xuống từ đỉnh núi. Nước không rơi nhanh như bạn
tưởng mà dường như thật là chậm vì khoảng cách cao. Và nước không rơi
xuống thành một khối mà lại tách ra thành nhiều dòng nhỏ. Từ đằng xa
trông giống y như một tấm màn.
Và tôi nghĩ rằng, mỗi giọt nước rơi từ trên đỉnh núi xuống, chắc là trải
qua nhiều kinh nghiệm khó nhọc lắm. Nó phải mất biết bao nhiêu lâu mới
có thể chạm đến đáy của thác nước. Và tôi chợt nghĩ, có lẽ kiếp người cũng
giống như thế. Trong cuộc sống, ta trải nghiệm biết bao nhiêu nỗi khó khăn.
Nhưng cùng lúc đó, tôi hiểu, dòng sông ban đầu chỉ là một, nó không hề có
sự chia rẽ. Và chỉ khi nào bị tách rời ra nó mới có một sự khó khăn khi rơi
xuống.
Dường như nước không có một cảm giác nào hết, khi nó trọn vẹn là một
dòng. Chỉ khi nào chúng tách rời ra thành nhiều giọt nước nhỏ mà chúng
bắt đầu có cảm xúc và có thể biểu hiện sự sống. Khi nhìn dòng sông một
cách toàn thể ta sẽ không nhận được những sinh hoạt của nước. Nhưng khi
ta múc lên trong một muỗng nước, ta sẽ kinh nghiệm được cảm giác của
nước, và ta cũng sẽ cảm nhận được giá trị của người múc nước. Và khi cảm
nhận được ta và nước như thế, chúng ta sẽ không bao giờ có thể nào sử dụng
nước như là một đồ vật bình thường. Nó là một sự sống.
Một Giọt Nước Thì Cũng Vẫn Là Nước.
Sở dĩ chúng ta có những khó khăn là vì ta có cảm thọ. Ta bám víu vào
những cảm thọ này mà không ý thức được chúng bắt nguồn từ đâu. Vì
không thấy được rằng ta là một với dòng sông, mà ta đâm ra sợ hãi. Dầu cho
nước có tách ra thành từng giọt nhỏ hay không, thì nước vẫn là nước.
Chuyện sanh tử của ta cũng giống y như vậy. Hiểu được sự thật ấy ta sẽ
không còn sợ cái chết và sự sống nữa, mình sẽ được tự tại hơn.
Khi nước trở về hội nhập với dòng sông nguyên thủy, lúc ấy nó sẽ không
còn giữ một cảm thọ riêng biệt nữa. Nó tiếp nối tự tánh của mình và tìm lại
được sự an ổn của lúc ban đầu. Dòng sông lúc ấy chắc là vui mừng lắm. Nếu
như vậy thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào khi mình chết đi? Tôi nghĩ chúng
ta sẽ giống như nước trong chiếc thìa nọ. Chúng ta sẽ cảm thấy an ổn, một
sự an ổn hoàn toàn.
Một Cảm Nhận Toàn Vẹn.
Nhưng nói thì bao giờ cũng dễ, còn thật sự cảm nhận được điều ấy mới
là khó. Bằng thiền tập, ta có thể vun trồng, nuôi dưỡng được cảm nhận này.
Khi ta có thể ngồi với thân tâm mình một cách trọn vẹn, ta sẽ có được một
sự hiểu biết chân chánh.
Cuộc sống hằng ngày của bạn sẽ được luôn luôn đổi mới, không còn bị
mắc kẹt vào những quan niệm sai lầm của quá khứ. Nhờ vậy mà ta cũng
nhận thấy được sự phi lý của những thành kiến xưa cũ, và biết bao nhiêu nỗ
lực vô ích mà ta đã cố công thực hiện. Ta sẽ hiểu được ý nghĩa thật sự của
cuộc đời. Đến lúc ấy, cho dù hành trình rơi từ đỉnh núi xuống đáy thác có
gặp nhiều gian truân, ta vẫn yêu quý cuộc đời mình.
— Shunryu Suzuki
Duy Nhiên dịch

QUAY VỀ HỌC LẠI BÀI HỌC NƠI CHÍNH MÌNH


Sở dĩ chúng ta mãi trôi lăn trong luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau là vì
thân tâm luôn hướng ngoại tìm cầu đối tượng của lòng tham muốn. Được thì vui
mừng, thích thú nên cố tranh giành, chiếm đoạt…
Không được thì buồn phiền, bất mãn rồi đâm ra thất vọng, hận thù… Cứ thế
tham sân càng ngày càng dày đã che lấp không cho chúng ta thấy được sự thật,
đó chính si mê.
Tham – sân – si liên kết với nhau trở thành một thành trì vô minh ái dục sâu
dày. Từ đó chúng ta sa lầy trong thế giới bên ngoài. Để thỏa mãn những đòi hỏi
của bản thân (ngã), chúng ta càng ngày càng đi xa trên đường dong ruổi tìm
kiếm, và đã quên mất chính mình, thân tâm đã hoàn toàn bị phân tán và lạc lối
trong thế giới đầy màu sắc, âm thanh, hương vị, và sự xúc chạm hấp dẫn bên
ngoài.
Chúng ta hành động, đấu tranh, xây dựng, hủy diệt… đó chính là nghiệp báo.
Hậu quả tất nhiên là chúng ta gặt hái vô vàn phiền não khổ đau, đằng sau những
thú vui tạm bợ, mà chúng ta gọi là hạnh phúc!
Trong lúc đau khổ, hoặc là chúng ta cứ than trời trách đất, đổ lỗi cho hoàn
cảnh, cho người khác, thậm chí cho cả ma quỉ, thánh thần, hay cho một đấng tạo
hóa tưởng tượng nào đó, hoặc là chúng ta ước mơ hướng tới một cảnh giới cực
lạc để rồi chỉ càng đau khổ hơn, thất vọng hơn mà thôi. Cùng đường chúng ta lại
cầu khẩn van xin bồ-tát hay thiên, thần, quỉ, vật, mà không biết rằng tất cả những
phiền não khổ đau đều phát xuất từ chính mình, từ những ước mơ và thất vọng
ấy, chứ không phải do ai hay từ đâu đến.
Vậy để thoát khỏi những sai lầm do tà kiến và tham ái xúi giục đưa đến phiền
não khổ đau, cách duy nhất là chúng ta phải trở về học lại bài học nơi chính
mình. Phải quan sát sự vận hành của thân tâm để thấy rõ sự tương giao trong
mối quan hệ nhân quả, sinh diệt của các pháp bên trong cũng như bên ngoài. Đó
là lý do tại sao Đức Phật dạy pháp hành thiền tuệ trên bốn niệm xứ.
Hòa Thượng Viên Minh

NHÂN PHẨM LÀ CÂY, THANH DANH LÀ BÓNG.


Tài sản thực sự của một người không phải là vẻ ngoài xinh đẹp, cũng
không phải là tiền bạc của cải, mà là nhân phẩm, phẩm chất, phẩm giá con
người. “Nhân phẩm” là giấy thông hành của cuộc sống. Trong xã hội hiện
đại thiên biến vạn hóa như ngày nay, nhân phẩm là chỗ nương tựa cuối cùng
của tâm linh con người.
Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln viết về phẩm chất con người: “
Phẩm chất của con người giống như cây cối, thanh danh của con người giống
như bóng cây, chúng ta thường thường suy xét đến bóng cây mà lại không
biết cây cối mới là cái gốc”.
“Làm người trước, làm việc sau”. Nhân phẩm tốt là của cải lớn nhất của
một người. Nó hình thành nên địa vị và thân phận của con người đó. Nó
cũng là bằng cấp cao nhất của người đó, là báu vật của đời người đó có.
Nhân phẩm là học vấn cao nhất
“Người không có nhân phẩm tốt, không có đức thì không thể làm nên việc
gì, bởi vì đức chính là điều quan trọng nhất trong việc tu thân”. Và : “Người
thực sự có tài và đức mới là nhân tài thực sự”.

  • Xưa nay, giữa đức và tài, thì đức luôn đặt vị trí cao nhất.
    Có Tài: rất cần, nhưng chỉ là phụ, Có Đức mới là quan trọng,
    Người có tài năng mà không có nhân phẩm tốt thì rất nguy hiểm, không
    nên chọn dùng.
    Trong một công ty, cho dù là có cách quản lý chặt chẽ đến đâu đi nữa,
    một khi phân công chức vị lớn cho người có nhân phẩm không tốt thì cũng
    giống như công ty ấy đang ẩn chứa một mối nguy họa.
    Nếu như một tổ chức có người mỗi ngày đều nghĩ cách chiếm lợi riêng
    cho mình thì người ấy đáng trọng dụng sao?
    Một người có năng lực lớn nhưng lại có nhân phẩm không tốt thì năng
    lực càng lớn càng phản tác dụng.
    Vậy nên, nhân phẩm là vô cùng quan trọng. Đời người có thể không có
    học vị nhưng không thể không có học vấn, lại càng không thể không có nhân
    phẩm. Nhân phẩm là học vị cao nhất, vừa có tài vừa có đức mới thực sự là
    người trí tuệ, là nhân tài chân chính.
    Phẩm giá là của cải quý giá nhất. Nhân phẩm tốt chính là vòng nguyệt
    quế và vinh quang của đời người. Nó là của cải quý giá nhất của người đó.
    Nó cấu thành nên thân phận và địa vị của của người đó. Nó là toàn bộ tài
    sản thuộc về phương diện danh dự của riêng người đó.
    “Làm người trước, làm việc sau”
    Đạo lý ngàn đời không thay đổi mà các cụ đã dạy.
    Một người cho dù có thông minh đến mức nào, có tài năng lớn đến đâu,
    hoàn cảnh gia đình có tốt đến mức độ nào mà không hiểu được rằng phải
    làm người trước, nhân phẩm sẽ rất kém, thì sự nghiệp và các mối quan hệ
    của người ấy cũng sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Thậm chí, người ấy sẽ không thể
    xây dựng được sự nghiệp trong cuộc đời mình. Chỉ có người hiểu rằng “làm
    người trước, làm việc sau” mới làm thành được việc lớn.
    Có câu:
    Đức hạnh là nguồn nước,
    Tài năng chỉ như sóng nước,
    Đức là cái gốc của cây
    Còn tài chỉ như cành cây mà thôi”.
    Bởi vậy mà trong thuật làm người hay làm việc, đều nhấn mạnh rằng:
    “Lấy đức làm đầu”. Một người có nhân phẩm tốt thì người ấy tự đã có phẩm
    chất hào quang, đi tới bất kỳ nơi đâu thì đều sẽ tỏa sáng.
    Tiếng Lòng
    Namo Buddhaya

KHỞI LÊN Ý NIỆM CAI TRỊ, QUẢN LÝ VÀ LÃNH ĐẠO LIỀN RƠI VÀO LƯỚI MA


Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ
trong rừng. Trong khi Thế Tôn thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi
lên: Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; Không
chinh phục, không khiến người chinh phục; Không sầu muộn, không khiến
người sầu muộn một cách đúng pháp?
Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến nói với Thế
Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị.

– Này Ác ma, ông thấy gì mà ông nói với Ta như vậy?

– Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn,
khéo áp dụng. Và bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các
loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có
thể trở thành vàng.

Thế Tôn nói kệ:
Dầu cho cả ngọn núi
Trở thành toàn vàng ròng
Cho đến hóa gấp đôi
Cũng không thỏa mãn được
Tham vọng của một người
Biết vậy để hành trì
Ai thấy rõ đau khổ
Và nguyên nhân đau khổ
Làm sao người như vậy
Có khuynh hướng ái dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời
Người biết vậy nên học
Giải trừ mọi buộc ràng.

Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, sầu khổ,
thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 4, phẩm 2, phần Thống trị)


Pháp thoại này cho thấy Thế Tôn đã từng nghĩ đến việc thiết lập một xã
hội đức trị lý tưởng trong đó có cai trị mà “không giết hại, không để người
giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu
muộn, không khiến người sầu muộn”.
Quả đây là một ý tưởng tuyệt vời, tâm nguyện vì chúng sanh cao cả.
Nhưng khi Thế Tôn vừa khởi lên tư tưởng này thì ác ma liền nắm bắt đồng
thời cất lời xưng tán và động viên Ngài hãy thiết lập sự cai trị. Ngay lập tức,
Thế Tôn biết được ác ma đang lợi dụng lòng tốt của Ngài nên liền xả niệm,
an trụ vào vô tâm, tịch tịnh.
Với trí tuệ của bậc Giác ngộ, Ngài thấy rằng dù cho làm được điều khó
làm nhất như biến ngọn Tuyết Sơn thành một khối vàng ròng nhưng nếu
tâm tham chưa điều phục thì việc ấy chỉ tăng trưởng tham vọng, chấp thủ
và buộc ràng mà thôi. Điều này thật đáng để cho những đệ tử Phật suy tư
trước những hoài bão độ sanh to lớn, những Phật sự bộn bề và nhất là nỗ lực
để cải thiện và kiện toàn các hình thái tổ chức xã hội cũng như Giáo hội…
trong khi thân tâm còn nhiều ràng buộc và giới hạn của tập khí, phiền não.
Ác ma luôn ca ngợi và khuyến khích hành giả (chưa giải thoát) tham gia
quản trị xã hội (cũng như giáo hội) nhưng thực chất là đánh lạc hướng chúng
ta lệch khỏi mục tiêu giải thoát và tăng trưởng tham ái quyền lực. Do đó, tùy
duyên mà làm lợi ích cho đời, làm tất cả những hạnh lành nhưng phải buông
xả tất cả, vô chấp để vượt qua mọi kềm tỏa và lợi dụng của ác ma.
QUẢNG TÁNH

NHỮNG ĐIỀU CẢ ĐỜI TA CẦN HỌC

  1. HỌC CÁCH TỰ MÌNH VƯƠN LÊN
    Đừng bao giờ hy vọng rằng người khác sẽ bố thí cho bạn bất kì đồng tiền
    nào, vì tiền đối với mỗi người trên thế giới đều không bao giờ là đủ. Người
    có ít tiền sẽ muốn làm 2 chuyện, người có nhiều tiền muốn làm 20 chuyện;
    không có ai thừa tiền để cho bạn hàng ngày.
  2. HỌC SỐNG MẠNH MẼ
    Phải ghi nhớ một điều rằng không phải lúc nào bạn gặp khó khăn cũng
    có người bên cạnh giúp đỡ, những lúc như thế bạn càng phải mạnh mẽ lên,
    độc lập tự giải quyết, kiên cường bước tiếp, dũng cảm đối mặt với mọi hiểm
    nguy.
  3. ĐỪNG QUAN TÂM ĐẾN SỰ GIÀU NGHÈO CỦA KẺ KHÁC
    Đừng bao giờ nhìn vẻ bề ngoài của người khác để kết bạn, sự giàu có của
    họ không liên quan gì tới một xu của bạn. Có thể cả gia tài của họ đáng giá
    hàng tỷ đồng nhưng khi bạn không có cơm ăn họ sẽ chỉ cho bạn một chiếc
    bánh mì đã là quý lắm rồi đó!
  4. HỌC THẤU HIỂU VÀ SỐNG ĐỘ LƯỢNG
    Bạn bè dang tay giúp đỡ là một việc đáng để biết ơn, không thể giúp đỡ
    cũng không nên trách cứ, càng không nên nuôi hận trong lòng. Không phải
    ai cũng có khả năng cưu mang hay giúp bạn suốt đời.
  5. HỌC CÁCH TÌM HẠNH PHÚC NỘI TÂM
    Đừng chỉ vì sự giàu có về tiền bạc mà quên đi những hạnh phúc trong
    tâm hồn. Sẽ có một ngày bạn nhận ra, những bạn bè giàu có có thể cùng bạn
    ăn chơi nhảy múa, đưa bạn đi hết quán xá này đến cửa tiệm nọ, và họ cũng
    có thể lôi bạn vào xã hội phức tạp, nơi mà đồng tiền là thước đo của mọi giá
    trị. Hãy nhớ rằng những cuộc vui ồn náo rất chóng tàn.
  6. HỌC TRƯỞNG THÀNH
    Tuổi trẻ của chúng ta qua đi rất nhanh, chúng ta mãi mãi không bao giờ
    có thể chống lại được tạo hóa, tuổi càng cao thì nếp nhăn trên trán càng
    nhiều; nhưng nhờ dòng chảy không ngừng đó của thời gian, chúng ta có thể
    mài giũa tâm hồn, như viên ngọc trai càng mài càng sáng. Nhớ rằng, thước
    đo của sự trưởng thành là ở trên bình diện Tâm Linh & Đạo Đức chứ không
    là những thứ khác.
    Thiện Tri Thức
    Namo Buddhaya

QUYỀN LÀM MẸ

Tôi vượt biển một mình, đau quằn quại đến không còn thiết sống. Tôi như đi trong sương mờ, mải miết vươn đến chỗ Mẹ tôi đang vẫy gọi. Tôi thèm được vùi vào lòng Bà, khóc nức nở như một đứa trẻ thơ để quên hết những nỗi đau thể xác và tâm hồn.

Bà mở rộng vòng tay ôm lấy tôi.

Tôi khóc nức lên và choàng tỉnh dậy. Mẹ tôi đã tan biến, chỉ có Dì đang ôm tôi.

Tôi gào lên:

– Dì làm gì vậy? Tại sao Dì dám ôm tôi?

Dì lật bật lùi ra xa, lắp bắp :

– Dì xin lỗi. Dì thấy con đau quá mà không biết làm gì. Dì thấy tội nghiệp con quá…

– Ai cần dì tội nghiệp. Tôi đã bảo Dì đừng vào đây mà. Hãy để cho tôi một mình, tôi không cần ai hết.

– Làm sao dì để cho con một mình được. Ba con không đi đến được, em trai thì đi mất. Không có Dì con làm sao đây?

– Dì quan trọng quá nhỉ? Vì ai mà em tôi thành bụi đời, Ba tôi buồn rầu mà sinh bệnh, còn tôi thì bị tống cổ ra khỏi nhà?

– Con nghĩ sao cũng được nhưng bổn phận làm Mẹ, Dì phải lo cho con.

– Làm Mẹ à!

Tôi hét lên

– Dì lấy tư cách gì làm Mẹ của tôi? Dì tự xem lại mình có xứng với hai tiếng ấy không? Dì làm tổn thương đến vong linh của Mẹ tôi đấy. Dì đi đi, Dì ở đây làm tôi đau đớn hơn.

Ôi, Mẹ ơi, sao Mẹ lại bỏ con, Mẹ ơi!

Hoảng sợ trước lời kêu khóc của tôi, Dì lóng ngóng chạy ra ngoài.

Năm tôi mười lăm tuổi, Mẹ tôi qua đời. Mẹ tôi là một phụ nữ tài năng, xinh đẹp. Chính vì vậy mà năm năm sau khi Ba tôi cưới dì, một Y tá lỡ thời, cục mịch, quê mùa, tôi bị sốc thực sự. Điều đó không chỉ làm tổn thương đến tâm hồn non trẻ của tôi mà còn xúc phạm đến vong linh của Mẹ tôi.

Đối với tôi, Dì là một người thuộc tầng lớp khác nếu không muốn nói là thấp hèn hơn. Ba tôi là một Bác sĩ giỏi lại rất tài hoa. Ba và Mẹ là một cặp xứng đôi đến nỗi trong cả triệu cặp vợ chồng chắc mới có một. Vì vậy sự khập khiễng giữa Ba và Dì làm tôi lúc nào cũng sôi sục, hễ cứ gặp mặt Dì là mọi uất ức dâng lên trong tôi. Tôi không cấm Ba lấy vợ kế nhưng biết bao người xứng đáng Ba không chọn, lại chọn một bà Y tá lỡ thời, quê mùa, thất học.

Em tôi còn phẫn uất hơn tôi nên đã bỏ nhà đi hoang, không tìm lại được. Tôi nói năng hỗn xược, xúc phạm cả Ba lẫn Dì, bị Ba giận đuổi đi vào một đêm mưa tầm tã. Rồi Ba hối hận chạy đi tìm tôi nhưng tôi nhất định không chịu về, đến ở hẳn nhà bạn trai. Trong ngày đám cưới của tôi, một cuộc hôn nhân Ba không chấp nhận, Ông bị lên huyết áp và bị liệt nửa thân người. Tôi sớm rời trường đại học, sống vất vưởng với một cuộc hôn nhân vội vã bốc đồng và chẳng mấy chốc cũng ly hôn khi đang bụng mang dạ chửa.

Khi con gái tôi ra đời, chẳng rõ chầu chực ở đâu sẵn, Dì lao vào bệnh viện với nào tã, nào nón, nào khăn chẳng biết dì sắm sửa từ bao giờ. Chẳng đếm xỉa gì đến vẻ tức giận của tôi, Dì nâng con bé lên nựng nịu :

– Ôi, cháu của ngoại, cục cưng của ngoại. Ngoại mong cháu từ lâu lắm rồi, viên kim cương của ngoại. Nào, nào Mẹ cho bé mum tí nào.

Dì lăng xăng líu xíu ủ chân tay cho tôi, lấy nước nóng chườm bụng rồi lại chạy băng về nhà vừa báo tin mừng cho Ba tôi, vừa mua thức ăn tẩm bổ cho tôi.

Biết không thể xua đuổi được Dì, tôi đành phải chấp nhận sự săn sóc của Dì với vẻ xa cách lạnh lùng. Ngày hôm sau, Ba tôi đi xe lăn vào. Nhìn thấy Ông, tôi bật khóc. Vị bác sĩ phong độ ngày nào nay tàn tạ vì bệnh tật, vì gia cảnh tan nát. Ông chỉ điềm đạm nói với tôi:

– Ba không bắt con phải vì Ba, phải vì Dì cũng không vì bản thân con mà phải vì con bé này. Con đã tạo ra nó trong sai lầm của mình thì cũng đừng để nó lớn lên trong sự sai lầm. Hãy trở về với Ba, cho con của con những gì tốt đẹp nhất dù bản thân con có phải đối diện với những thử thách đau lòng. Mẹ con mãi mãi là một hình ảnh đẹp không ai có thể làm hoen ố hình ảnh ấy.

Những lời Ông nói cứ thấm vào lòng tôi đau buốt. Ôi, con gái của tôi, lẽ nào vì tôi mà cuộc đời nó cũng chẳng tốt đẹp gì hơn.

Tôi trở về nhà, lòng lạnh giá hơn. Dì là người vui nhất. Tôi chẳng hiểu được nỗi vui mừng ấy. Lẽ ra Dì phải vui khi tống được cái gai nhọn như tôi ra khỏi nhà mới phải. Tôi nhận sự chăm sóc rất mực chu đáo của Dì như nhận một thói quen, thậm chí như một sự ban ơn. Dì không chú ý gì đến vẻ xa cách, kẻ cả của tôi mà chỉ tìm mọi cách để tôi vui. Dì lăng xăng suốt ngày, quần xắn đến gối, mắt lấp lánh tia cười, miệng líu ra líu rít.

– Hoàn ơi, con xem con bé này đã biết cười rồi đấy.

– Ấy, ấy, con đừng đi sãi chân như vậy, khép chân lại nào. Này, quấn cái khăn lên đầu, gió lùa đấy.

– Dì đã giặt đồ cho cháu rồi. Giặt đồ cho em bé không nên vắt, sẽ làm em vặn vẹo suốt đêm.

– Ôi cục vàng của ngoại sao lại khóc… Bé khó chịu hả? Ứ ừ, em không chịu nằm nữa à? Thế ngoại bế con ra sân chơi nghen?

Suốt ngày nhà chỉ văng vẳng tiếng Dì. Dì tự hỏi rồi cũng tự trả lời. Dì đoán được ý của tất cả mọi người, từ Ba tôi đến con bé chỉ biết khóc kia. Dì phục vụ tất cả chúng tôi với lòng tận tâm hồ hởi. Nhưng có lúc Dì lại ngồi thần người ra, vẻ ủ dột trầm ngâm. Rồi không nén nổi, Dì thở dài:

– Tội nghiệp thằng Quang, mưa gió thế này không biết nó ở đâu.

Quang là em trai tôi, mười tám tuổi. Tôi lén nhìn Dì, nỗi đau của Dì giống hệt nỗi đau của người Mẹ xót thương con.

Nếu là Mẹ tôi hẳn cũng chỉ đau khổ đến thế là cùng.

Đêm đêm sau khi làm xong mọi việc, Dì lại quày quả đi tìm Quang. Dì đã đi tìm nó suốt hai năm qua. Ba tôi và tôi đã không còn hy vọng vì rõ ràng biết nó còn quanh quẩn đâu đây nhưng nó không muốn gặp ai trong gia đình. Nó đã không muốn gặp, không muốn trở về nhà thì dù có tìm được nào có ích gì. Nhưng Dì không nản lòng – Một ngày kia Dì chộp được nó khi nó ngủ gà ngủ gật trong công viên. Nói đúng ra khi nó đang đói ma túy. Thế là từ đó cả nhà tôi, hay đúng hơn là chỉ có Dì, chiến đấu giành giật lấy nó từ tay của nàng tiên nâu.

Dì trói nó vào góc nhà, áp dụng đủ mọi phương cách, mọi bài thuốc từ tây lẫn ta, bồi bổ cho nó đủ mọi thứ sơn hào hải vị. Khi mập mạp béo tốt trở lại, nó lại bỏ nhà ra đi. Dì tiếp tục cất công đi tìm và lại tìm thấy khi nó đang thân tàn ma dại ở đâu đó. Lại cột nó ở góc nhà, lại những bài thuốc, những món ăn ngon… Cái vòng luẩn quẩn ấy cứ lặp lại không biết bao nhiêu lượt. Đến như tôi cũng phát chán, còn Ba tôi thì gần như đã buông xuôi, đau đớn vì Bác sĩ như mình mà không cứu nổi con. Chỉ riêng Dì vẫn cứ bền bỉ đi tìm nó mãi.

– Hoàn này !

Dì rụt rè bảo tôi khi thằng Quang bắt đầu một vòng cai nghiện mới.

– Con phải nói điều gì với em chứ. Dì là người quê mùa, chỉ biết làm, không biết nói gì để khuyến khích động viên nó. Còn con là người có kiến thức, lại hiểu biết tâm lý của em, con phải giúp em con vượt qua những thử thách này. Con không thấy em con còn quá trẻ sao? Lẽ nào chúng ta để cho nó chôn vùi cả cuộc đời…

Tôi tìm thấy Quang đang nằm úp mặt khóc trên giường. Tôi không vỗ về nó mà ngồi xuống mép giường, đều đều nói:

– Mẹ không mong muốn chị em mình trở thành như thế này. Chị đã sai lầm và em cũng vậy. Ta có thể giữ nguyên những cảm nghĩ của mình về Dì mà không cần hủy hoại bản thân mình. Đứng dậy đi em, xây cho chính mình một tương lai mà không cần phụ thuộc bất cứ điều gì.

Hãy làm sao cho xứng đáng với Mẹ!

Tôi nói với nó cũng là đang nói với chính mình. Rồi tôi trở lại giảng đường đại học. Nó cũng đã thoát khỏi vòng kềm tỏa đáng sợ của nàng tiên nâu. Dù thực tế công sức của Dì đối với chị em tôi rất lớn nhưng tôi vẫn không muốn thừa nhận. Dì nuôi con cho tôi đi học. Dì chăm sóc từng li từng tí cho Quang để nó có đủ sức khỏe trở lại trường. Dì lại là hộ lý của Ba.

Nhiều khi trong thâm tâm tôi chợt chạnh lòng thương Dì.

Làm sao Dì có thể làm ngần ấy công việc trong một ngày, phục vụ cả bốn con người. Nhưng rồi niềm kiêu hãnh trong tôi lên tiếng: đó là nhiệm vụ của Dì. Dì không có tài để làm những việc lớn lao thì phải làm những việc vặt ấy. Như đọc được suy nghĩ của tôi – nhiều khi tôi rất kinh ngạc về khả năng đọc được suy nghĩ người khác của Dì .

Dì bảo:

– Dì đã quen với những công việc này rồi. Ai chẳng muốn an nhàn nhưng cuộc sống bắt buộc mình phải sống hết mình với nó.

Tôi mở to mắt nhìn Dì; câu nói của Dì không phải của một Y tá tầm thường mà là của một Triết nhân. Ngôn ngữ của Dì càng lúc càng khác xa con người Dì. Một lần nữa Dì lại đọc được suy nghĩ của tôi:

– Con tự hỏi tại sao Dì lại nói năng văn hoa như vậy phải không?

Dì là người không được học hành đến nơi đến chốn. Nhưng mấy mươi năm qua chiến tranh đã dạy cho Dì từng con chữ, từng lời nói, từng cách cư xử… Dì học ở khắp nơi, bên chiến hào, trong nhà dân, trong nhà tù… Mấy năm làm Y tá trong bệnh viện, làm việc dưới quyền Ba con, Dì cũng học hỏi được rất nhiều. Con hãy ráng học lên, sự học làm người ta mở lòng với nhân loại hơn.

– Trời ơi! Sự học làm người ta mở lòng với nhân loại hơn.

Một người như Dì lại có thể nói câu đó ư?

Tôi vụt chạy vào phòng Ba, thảng thốt nhìn Ông :

– Ba, rốt cuộc Dì là người thế nào? Làm sao Ba có thể quên Mẹ để yêu Dì được?

– Con ngồi xuống đi con gái .

Ba dịu dàng bảo

– Tuổi trẻ các con hay có một quan điểm tuyệt đối. Không có cái gì là tuyệt đối cả. Tại sao con lại nghĩ Ba lấy Dì nghĩa là Ba đã quên Mẹ con?

Tại sao con lại nghĩ vẫn yêu Mẹ thì Ba không thể lấy Dì?

Cuộc đời là thế giới muôn màu. Vì sao con chỉ nhìn vào tài sắc của Mẹ con mà cho rằng Dì không xứng với Ba, chứ không đánh giá Dì bằng chính con người Dì. Mẹ con là một thế giới khác, Dì là một thế giới khác. Và – không ai dám cho rằng thế giới nào đầy màu sắc và thế giới nào đầy bóng đêm.

Dì đã trải qua nhiều nỗi gian truân nhưng không hoàn cảnh nào có thể đánh gục được Dì. Điều đó không dễ gì có được ở lớp người như Ba, như Mẹ, như con. Con thấy đấy, Mẹ con là một Bác sĩ, an ủi nâng đỡ cứu sống không biết bao nhiêu người nhưng khi biết mình bị bệnh thì suy sụp hẳn, không gượng dậy nổi. Khi Mẹ chết, nếu không có Dì chắc Ba cũng đã trở nên bệ rạc, bê tha. Còn con, tự cho mình là thông minh, bản lĩnh nhưng chỉ vì một việc bất như ý mà thả trôi cuộc đời mình. Còn Dì là người vào sinh ra tử, vào tù ra khám, từng làm Vợ làm Mẹ nhưng bị tước hết những quyền thiêng liêng ấy.

– Dì từng làm vợ, làm mẹ?

Tôi ngỡ ngàng.

– Con lạ lùng lắm sao? Nỗi đau ấy, Dì giữ cho riêng mình, không mấy ai biết được. Chồng của dì đã hy sinh, đau đớn quá Dì đã sinh non và đứa bé đã chết sau khi sinh vài giờ. Dì đã đem nỗi đau mất chồng, mất con vào cuộc hành trình lặng lẽ của mình. Dì đã đem tình thương của người Vợ người Mẹ dành cho tất cả mọi người, cho Ba, cho các con với lòng cao cả vô biên. Dì đã sống cho người khác, vậy mà khi có ai khác sống cho Dì thì con lại bảo Dì không xứng đáng. Huống chi đây không phải là sự hy sinh của Ba mà là sự đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu. Con hãy đem tấm lòng mình để gần gũi với Dì hơn, khi đó con sẽ thấy Ba không nói quá đáng. Những gì ở Ba ở Mẹ không có thì ở Dì có, vậy không phải là bổ sung cho nhau sao? Con còn đòi hỏi nơi Dì điều gì nữa?

Tôi đòi hỏi gì ư? Tôi được sinh ra bằng mối tình tuyệt diệu của Ba Mẹ, lớn lên trong tình yêu nhưng rốt cuộc lại trở thành một người không có tình thương yêu dù với một người đã xem mình còn hơn đứa con rứt ruột đẻ ra. Tôi sắp trở thành một Bác sĩ nhưng lại không đủ lòng nhân ái của một Y tá bình thường như Dì. Tôi cứ mãi đau đớn vì mối mâu thuẫn giằng xé nên thường ngồi lì trong thư viện không về nhà sau buổi học. Dì lại tất tả tìm tôi. Cái vẻ hốt hoảng lo âu của một người Mẹ vừa làm nhói lòng tôi vừa làm tôi uất hận. Tôi không biết mình hận cái gì? Hận Dì sao không là một người tầm thường cho tôi căm ghét mãi? Hận Dì sao dần dần rõ nét một nhân cách lớn làm tôi thấm thía sự nhỏ nhoi của mình.

Tôi theo Dì vào nhà. Bé Uyên sà vào lòng tôi, líu lo đủ mọi chuyện.

Dì bảo:

– Con đừng quá mải mê với công việc, với những ý thích riêng mình mà bỏ quên cái quyền làm Mẹ.

Dì không bảo “Bổn phận làm mẹ” mà lại bảo “Quyền làm mẹ”. Tôi ngước mắt nhìn Dì. Dì lại đọc được câu hỏi trong mắt tôi, cười đôn hậu:

– Con không thấy được làm Mẹ là một hạnh phúc lớn hay sao?

Tôi thấm thía câu ấy. Dì bị tước đi cái quyền làm Mẹ từ khi rất trẻ và được ban trở lại khi tuổi về già nên dù chị em tôi đã đối xử thật tệ bạc với Dì nhưng Dì chỉ thấy niềm hạnh phúc được sống với thiên chức của người Mẹ.

Mừng Quang thi đậu vào đại học, Dì thưởng cho cả nhà một chuyến đi picnic xa bất chấp con bé Uyên quấy Dì suốt cuộc hành trình, bất chấp Ba tôi mới tập đi lại được, chân rất yếu, lúc nào cũng cần Dì dìu đỡ. Chỉ có niềm vui bất tận của một gia đình hạnh phúc trong chuyến đi chơi ấy.

Tôi hỏi Dì:

– Cái gì làm Dì vui nhất hôm nay?

– Dì vui vì Quang đã đủ bản lĩnh để trở lại đời. Dì vui vì đã trả lại cho Mẹ con những đứa con nguyên vẹn như ngày nào, còn lời thêm cục vàng này nữa nè !

Dì cười chỉ vào bé Uyên.

Ngày tôi xúng xính lên nhận bằng tốt nghiệp, Dì dẫn theo một chàng trai trẻ lên tặng hoa cho tôi. Trẻ là vì anh ta chưa có vợ, so với tôi đã có con gái lên năm, chứ thật ra anh ta đã hơn ba mươi tuổi, là một Bác sĩ trong khoa của Ba tôi, đã âm thầm theo đuổi tôi từ nhiều năm nay. Mắt Dì lấp lánh vẻ tinh nghịch và bí hiểm của bà Mẹ đang mưu toan kiếm chồng cho con gái. Tôi vừa buồn cười vừa… tức, ngùng ngoằng bỏ đi:

– Con không thích cái trò mai mối ấy. Con đâu có sợ lỡ thì…

– Ây dà, cái giọng này Dì đã nghe ở rất nhiều cô gái tân thời rồi. Nhưng cuối đời nhiều người mới nuối tiếc vì bỏ qua cơ may hạnh phúc gia đình. Con ơi! nghe Dì đi. Con còn lỡ dở vầy mãi dì không yên tâm. Khi nào con với em Quang có gia đình yên ấm hết thì Dì mới hả lòng.

Ước mơ của con người quá nhiều. Ước mơ của bà Mẹ dành cho con còn nhiều hơn. Dì trù liệu đủ mọi kế hoạch cho tôi, cho em Quang. Dì còn tính sẵn một tương lai dài thăm thẳm cho con bé Uyên vừa tròn năm tuổi, cho cả Ông già gần đất xa trời là Ba tôi, chỉ riêng mình Dì không dự định một điều gì. 

Một buổi sáng đẹp trời, mọi người đều đã tỉnh giấc, chỉ riêng Dì đi vào cõi vĩnh hằng. Dì từ giã cuộc đời nhẹ nhàng bình yên đến nỗi cả Ba, cả tôi – hai Bác sĩ trong nhà, đều không muốn truy lùng nguyên nhân để không làm tổn hại đến thân xác Dì. Dì đang ngủ yên lành hay Dì đang đi tìm Mẹ tôi, hãnh diện khoe với Bà rằng Dì đã làm xong ước nguyện của Bà.

Bên mộ Dì, thằng Quang gào khóc nức nở. Khi Mẹ tôi chết, nó còn quá bé để có thể đau đớn thống thiết như thế.

Còn tôi – cả hai đám tang tôi đều không khóc. Chỉ có những giọt lệ chảy trong tim tôi không ai thấy được. Vì nó đọng ở trong tim nên lòng tôi luôn nhức nhối…

Trương Thị Thanh Hiền